đó hạ lệnh xây dựng một tòa Thông Thiên Tháp trong hoàng cung.
Ngày Thông Thiên Tháp khánh thành, ngài sẽ bỏ mạng trên đỉnh tháp, thất khiếu lưu huyết.
Tam hoàng tử Chu Diễn cõng thi thể ngài từ trên tháp xuống, văn võ bá quan quỳ mọp thành một mảng. Chu Diễn rơi lệ ròng rã, khóc lóc bảo: Phụ hoàng lâm chung lưu lại di chiếu, truyền ngôi cho nhi thần.
Không ai hay biết đạo di chiếu ấy là ngụy tạo.
Bởi vì những kẻ biết chuyện, thảy đều đã chết.
Ta thu lại ánh mắt từ tương lai của ngài, một lần nữa rạp mình cúi lạy.
“Bẩm Bệ hạ, trước lúc lâm chung tổ phụ chỉ để lại một câu.”
“Câu gì?”
“Người dặn, Sử quan chỉ ghi chép, không cất lời.”
Hoàng đế trầm ngâm hồi lâu.
“Hay cho câu chỉ ghi chép không cất lời.” Ngài bỗng bật cười một tiếng, trong tiếng cười ẩn chứa hàm ý khó lường, “Tổ phụ ngươi cả đời nói lời ngay thẳng, cuối cùng lại dạy cháu gái mình phải ngậm miệng. Có thú vị đấy.”
Ngài xoay người, bước lại bên bờ lan can, quay lưng về phía ta.
“Ngươi lui xuống đi.”
“Rõ.”
Khi ta men theo bậc thang Quan Tinh đài lùi xuống, Cao Đức An vội vã đuổi theo, nhét vào tay ta một tấm yêu bài.
“Dư cô nương, Bệ hạ ban chỉ, tấm yêu bài này cô nương cứ cất lấy. Ngày sau trong cung có triệu kiến, cô nương cứ bằng vào tấm lệnh bài này mà nhập cung. Nếu có ai dò hỏi, thì bảo Bệ hạ thương xót hậu nhân của Dư công, cho phép cô nương ngày mồng một mười lăm hàng tháng vào cung chép kinh cho Thái hậu.”
Ta nhận lấy tấm lệnh bài.
Cao Đức An hạ giọng: “Dư cô nương, nhà ta mạn phép lắm mồm một câu. Những năm qua, phương sĩ thuật sĩ được Bệ hạ triệu kiến không được một trăm cũng phải tám mươi, kẻ nào kẻ nấy thảy đều khoác lác có thể thông quỷ thần, biết tương lai. Cô nương là người đầu tiên bị hỏi mà đáp lời ‘không thể’.”
Lão nhìn ta một cái thật sâu, rồi xoay lưng rời đi.
Ta siết chặt tấm yêu bài trong tay, đứng lặng dưới chân cung tường.
Hoàng đế kiếp trước cũng từng ban cho ta một khối yêu bài, nhưng lúc đó ta đã nói chữ “Vâng”. Thế là tấm yêu bài ấy hóa thành sợi xích sắt siết chặt quanh cổ ta, việc sao chép kinh thư vào mùng một mười lăm hàng tháng, biến thành những lời tiên tri trước mỗi buổi lâm triều.
Lần này ta nói “Không thể”.
Thế nhưng tấm yêu bài vẫn nằm gọn trong tay ta.
Có những thứ, muốn trốn cũng không trốn được. Chỉ đành đổi một phương thức khác để nghênh đón mà thôi.
4
Tết Thượng Nguyên đến.
Khắp thành giăng kín đèn hoa, hai bên đường Chu Tước treo đầy đủ loại lồng đèn sặc sỡ, đèn thỏ ngọc, đèn liên hoa, đèn tẩu mã, chiếu sáng cả con phố rực rỡ như ban ngày.
Ta vẫn còn nhớ lời thề với Thanh La rằng sẽ không đi xem đèn, nhưng ta đã nuốt lời.
Không phải ta không kiềm lòng được, mà là do ta đã nhìn thấy tương lai của nàng ta — nếu ta không đi, nàng ta sẽ gặp gỡ Triệu Hổ tại hội đèn lồng, rồi theo Triệu Hổ rời đi. Sáng hôm sau trở về, trên cổ nàng ta sẽ hằn thêm một vệt đỏ, ánh mắt sẽ đổi khác.
Đó không phải là dấu vết bị cường bạo, mà là tâm tâm niệm niệm cam tâm tình nguyện.
Con người Triệu Hổ, sinh ra đã có bộ da đẹp đẽ, lại càng có cái miệng dẻo quẹo. Hắn có thể trong vòng ba ngày khiến một nữ nhân phải sống chết vì hắn. Kiếp trước hắn làm được, kiếp này hắn vẫn thừa sức làm được.
Cho nên ta phải đi.
Không phải để ngăn cản — ta biết có ngăn cũng vô ích. Ta đi để nhìn cho tỏ tường, kẻ đứng sau giật dây Triệu Hổ rốt cuộc là ai.
Kiếp trước ta luôn đinh ninh Triệu Hổ là người của Thôi Tĩnh Chi. Nhưng trước lúc nhắm mắt Thanh La nói “Hắn là người của Chu Diễn”, ta mới vỡ lẽ mình đã nhầm.
Thôi Tĩnh Chi hay Triệu Hổ, thảy đều chỉ là những quân cờ. Kẻ đánh cờ thật sự, trước sau luôn ẩn nấp sau bức màn.
Đêm hội lồng đèn Thượng Nguyên, chính là nước cờ đầu tiên trên bàn cờ ấy.
Ta dẫn Thanh La rời phủ.

