Có người lao lên lầu thành, quỳ xuống bẩm báo rằng cung Chiêu Minh bị cháy, y phục và trang sức của hoàng hậu rơi xuống cống ngầm, sống chết chưa rõ.

Tiêu Cảnh Hành lập tức hất tay Diêu Phù Doanh ra, thậm chí chẳng còn để tâm đến uy nghiêm của một bậc đế vương, cứ thế chạy thẳng về nội cung.

Hắn lao vào cung Chiêu Minh đã bị thiêu sập một nửa, tìm thấy cây phượng trâm gãy giữa đống tro tàn.

Cây phượng trâm ấy chính tay hắn đã cài lên tóc ta vào năm đăng cơ.

Khi ấy, hắn từng nói:

“Thanh Ngô, từ nay về sau, nàng và trẫm sẽ cùng hưởng tôn vinh, cùng chung vinh quang.”

Vậy mà giờ đây, trâm đã gãy, người cũng chẳng còn.

Lục thái y quỳ bên ngoài đám cháy, bẩm rằng bệnh cũ của ta tái phát, lại hít phải quá nhiều khói độc. Sau khi rơi xuống cống ngầm, nước chảy xiết, đường cống sâu hun hút, e rằng khó có cơ hội sống sót.

Tiêu Cảnh Hành không tin.

Hắn hạ lệnh cho cấm quân phong tỏa toàn bộ hoàng cung, đích thân xuống cống ngầm tìm người.

Đêm ấy, tuyết càng lúc càng rơi dày.

Long bào vàng rực trên người hắn bị nước bẩn thấm ướt sũng, lòng bàn tay bị đá vụn cứa đến máu chảy đầm đìa.

Nhưng cho đến khi trời sáng, thứ được vớt lên từ cuối đường cống cũng chỉ là một mảnh vạt áo nhuốm máu.

Khi Thái hậu chạy đến, bá quan văn võ đã chờ bên ngoài cửa cung suốt cả đêm.

Một quốc gia không thể để mất thể diện dù chỉ một ngày.

Hoàng hậu không thể vô duyên vô cớ mất tích không rõ tung tích, càng không thể để lộ tin đồn giả chết rời cung, một vụ bê bối đủ sức làm lung lay kỷ cương cung cấm.

Vì vậy, Thái hậu và Nội các đã bàn bạc, quyết định ngay trong đêm.

Đối ngoại ban chiếu cáo:

Hoàng hậu Tạ thị đã hoăng thệ trong đêm hội vạn đăng.

Nhưng Tiêu Cảnh Hành không chấp thuận.

Hắn tự nhốt mình trong phần điện còn sót lại của cung Chiêu Minh, không chịu gặp bất cứ ai.

Mãi đến ngày thứ ba, nội thị mới phát hiện mười ba cuộn tranh trắng được cất trong ngăn bí mật của thư phòng.

Từng cuộn tranh lần lượt được mở ra.

Mặt trước đều là những bức tranh đế hậu cùng ngồi xe, vẫn chưa được đặt bút vẽ.

Mặt sau mỗi bức đều có một dòng chữ nhỏ.

“Năm Nguyên Khải thứ nhất, người nói sang năm.”

“Năm Nguyên Khải thứ hai, người vẫn nói sang năm.”

Cứ như vậy, cho đến cuộn tranh thứ mười ba.

“Năm nay, người vẫn chưa cùng ta xuất hiện trong một bức chân dung.”

Nghe nói, sau khi đọc hết những dòng chữ ấy, Tiêu Cảnh Hành đã phun ra một ngụm máu.

Diêu Phù Doanh đến thăm, vừa khóc vừa nói rằng nàng ta không ngờ ta lại để tâm đến những chuyện ấy như vậy.

Lần đầu tiên, Tiêu Cảnh Hành không an ủi nàng ta.

Hắn chỉ ngước mắt hỏi:

“Thứ nàng ấy để tâm, thật sự chỉ là một bức tranh thôi sao?”

Mà lúc ấy, ta đã tỉnh lại trong một căn nhà cũ ở Giang Nam.

Ngoài cửa sổ là những cơn mưa phùn ẩm ướt kéo dài, dưới mái hiên treo một chiếc đèn lồng vải xanh.

Văn Chiếu ngồi bên ngoài bình phong, thấp giọng nói:

“Quán chủ, trong kinh thành đã tổ chức tang lễ cho hoàng hậu rồi.”

Ta ngẩn người rất lâu.

Không khóc, cũng chẳng đau lòng.

Chỉ bỗng cảm thấy cả người nhẹ nhõm hẳn.

Vị Tạ hoàng hậu từng mỏi mòn chờ Tiêu Cảnh Hành đề tên mình lên bức tranh ấy, cuối cùng đã chết trong đêm hội vạn đăng.

Còn người sống sót sau đêm ấy, tên là Tạ Thanh.

6

Quy Danh Quán nằm sâu trong một con ngõ cũ ở Giang Nam.

Mặt tiền không lớn, hai cánh cửa gỗ đã bị nước mưa thấm đến mức chuyển màu đen sẫm.

Tấm biển hiệu do chính tay mẫu thân ta đề chữ khi bà còn sống. Sau khi Tạ gia gặp chuyện, tấm biển bị tháo xuống, khóa trong kho, cất giấu suốt hơn mười năm.

Văn Chiếu lau chùi tấm biển ba lần, sau đó mới treo lên lại.

Hắn nói:

“Sản nghiệp cũ của Tạ gia vốn chuyên vẽ chân dung, lập hộ tịch và tìm lại danh tính cho người khác. Nay quán chủ trở về, quả thật là ý trời.”

Ta không tin vào ý trời.

Nếu thật sự có ý trời, ta đã chẳng phải chờ đợi suốt mười ba năm mà vẫn không có nổi một bức tranh đế hậu cùng ngồi xe.

Ngày đầu tiên Quy Danh Quán mở cửa trở lại, không có vị khách nào.

Đến ngày thứ hai, một phụ nhân bị nhà chồng đuổi đi tìm đến.

Phu quân nàng đã tử trận ở Bắc Cảnh, số bạc tuất dành cho gia quyến binh sĩ tử trận bị đám thúc bá trong tộc nhận hết. Ngay cả tên nàng trong hộ tịch cũng bị người ta gạch bỏ, chỉ ghi vỏn vẹn hai chữ “mỗ thị”, nghĩa là một người đàn bà không được nêu tên.

Nàng đứng trước cửa, ôm một đứa trẻ gầy gò đến mức chỉ còn da bọc xương, nhỏ giọng hỏi:

“Nghe nói nơi này có thể vẽ chân dung và ghi lại tên tuổi cho người khác, có thật không?”

Ta mời nàng ngồi xuống, rót cho nàng một chén trà nóng.

Nàng không dám chạm vào, hai bàn tay rụt sâu trong tay áo, như thể sợ mình sẽ làm bẩn mặt bàn.

Ta trải giấy lụa ra, hỏi:

“Ngươi tên gì?”

Người phụ nhân sững sờ.

Rất lâu sau, nàng mới đáp:

“Ta tên Liễu Nương.”

“Không phải thê tử của ai, cũng không phải góa phụ của nhà nào. Chỉ ghi tên của chính ngươi, được không?”

Đôi mắt nàng lập tức đỏ hoe.

Đó là bức chân dung đầu tiên của Quy Danh Quán.

Ta vẽ rất chậm.

Không phải vì tay nghề đã mai một.

Mà bởi vết thương cũ tái phát, chỉ cần cầm bút quá lâu, vai trái ta sẽ đau đến mức run rẩy.