Bước chân ta khựng lại.

Đó là một khuôn mặt quen thuộc.

Ở phủ Tĩnh An Hầu, thư phòng hậu viện, vô số góc rẽ lướt qua nhau — chủ nhân của khuôn mặt ấy luôn im lặng đứng ở một góc, không bao giờ bước tới gần, cũng không rời đi.

“Tạ Tranh?”

Ta buột miệng gọi, giọng nói mang theo sự ngỡ ngàng mà chính ta cũng không ngờ tới.

Chàng ngẩn người, sau đó nở nụ cười thẳng thắn.

“Là ta, nhưng ta đã bị xóa tên khỏi Hầu phủ rồi. Bây giờ ta đổi theo họ mẹ là ‘Thẩm’.”

Triệu Võ lộ vẻ khó hiểu, ta giơ tay ra hiệu cho hắn lùi xuống.

Tạ Tranh trước mắt ta, ba năm không gặp, giữa hàng lông mày đã có thêm vài phần trầm tĩnh và kiên nghị, nhưng đôi mắt đó không hề thay đổi.

Vẫn phẳng lặng như nước, giấu kín những thứ tâm tư không rõ ràng.

09

“Sao đệ lại ở đây?” Ta hỏi.

“Làm ăn.” Chàng đáp gọn lỏn, “Ba năm trước ta rời Hầu phủ đến nương nhờ gia tộc bên ngoại rồi bắt đầu đi buôn, nay việc làm ăn tình cờ mở rộng đến Tây Bắc.”

“Vậy nên, người muốn đích thân gặp ta đàm phán giá lương thực, chính là đệ?”

“Đúng.” Chàng gật đầu, “Trong tay ta đang có một ngàn thạch lương thực, sẵn sàng bán cho quân Tống gia với giá hai trăm văn một cân.”

Con số và mức giá này khiến tim ta giật thót, nhưng nhiều hơn là sự nghi hoặc.

“Tạ Tranh…” Ta mở lời.

“Thẩm Tranh.” Chàng ôn hòa chỉnh lại, “Chữ ‘Tạ’ kia, ta đã không dùng nữa rồi.”

Ta im lặng một lúc.

Chiều theo ý chàng đổi lại danh xưng, “Thẩm Tranh, hai ta không tính là người xa lạ, ta sẽ nói thẳng — Với cái giá này, đệ không hề có lãi. Vì sao?”

Chàng nhìn ta: “Thẩm mỗ tuy là kẻ buôn bán, nhưng cũng biết nặng nhẹ. Quân Tống gia trấn thủ biên ải trăm năm, bảo vệ sự bình an của đất nước, ta không dám phát tài từ quốc nạn vào những lúc như thế này.”

“Thêm nữa…” Chàng ngừng lại một chút, “Trên đời này, luôn có những chuyện quan trọng hơn cả bạc.”

Lời nói kín kẽ, hợp tình hợp lý. Tình hình cấp bách, ta không hỏi thêm.

“Một ngàn thạch đổi lấy tiền mặt, hiện giờ ta không có đủ.” Ta nói thẳng, “Chỉ có thể đưa trước tám trăm lạng, được không?”

“Không sao.” Chàng đáp một cách dứt khoát, “Tướng quân khi nào có bạc, khi đó trả thêm cũng được.”

Ta nhướng mày: “Đệ không sợ ta quỵt nợ sao?”

Chàng cười: “Tướng quân sẽ không làm vậy.”

10

Lương thảo được đưa đến đúng hẹn, giải quyết được tình thế nước sôi lửa bỏng của quân Tống gia.

Phụ nữ và trẻ nhỏ trong thiện đường lại được ăn cơm nóng, sĩ khí trong doanh trại không còn sa sút nữa.

Thẩm Tranh cứ cách vài ngày lại đích thân đến doanh trại đối chiếu sổ sách, giao nhận lương thảo.

Chàng làm việc nhanh gọn, không dây dưa, quan hệ với mấy tên quan coi kho trong quân cũng rất hòa thuận.

Mỗi lần đến, nói xong việc cần nói, ký xong chữ cần ký là cáo từ rời đi.

Không bao giờ nán lại hàn huyên, lại càng không nhắc đến chuyện cũ ở kinh thành hay Hầu phủ.

Cứ như thể giữa ta và chàng thực sự chỉ là mối quan hệ giữa tướng quân và thương nhân.

Điều đó ngược lại càng làm ta nảy sinh vài phần tò mò.

Tuyết tan, thương tích ở lưng của phụ thân cũng gần khỏi.

Nghe kể chuyện của Thẩm Tranh, ông trầm ngâm một lát: “Kẻ này tay trắng dựng nghiệp mà có được thành tựu như hôm nay, có thể thấy tâm tính kiên cường, nhẫn nại, thiên phú cực cao, là nhân tài hiếm có.”

Phụ thân rất hiếm khi khen ai.

Ta nhớ lại thiếu niên rụt rè ôn sách trong góc Hầu phủ ngày nào, chợt nảy sinh mấy phần vui mừng như thể thấy đệ đệ nhà mình thành tài.

11

Lương bổng của triều đình cuối cùng cũng được rót xuống vào đầu xuân, ta thanh toán xong số tiền còn thiếu cho Thẩm Tranh.

Chàng nhận xấp ngân phiếu, chỉ nhạt nhòa nói một câu “Tướng quân giữ chữ tín”, rồi cất vào tay áo.

Sau đó, số lần chàng đến quân doanh thưa dần.

Nhưng vì trước đó chàng đã giúp đỡ lúc cấp bách, chuyện gì cũng đích thân làm lấy, nên nhân duyên trong quân rất tốt.

Luôn có người thỉnh thoảng đem tin tức của chàng đến tai ta.

Thẩm Tranh thành thực trọng chữ tín lại rất có tài buôn bán, nghe nói chàng lại mở thêm hai chi nhánh, lấn sân sang cả dược liệu, da thuộc và vải vóc.

“Bắc Vọng” ngày càng có tiếng ở vùng Tây Bắc.

Đôi khi gặp nhau trong thành, chàng cưỡi ngựa dẫn theo đội thương buôn lướt qua trên phố, dáng vẻ vội vã. Ta cũng bận rộn quân vụ, không có thời gian nghĩ nhiều.

Cuối xuân, vùng biên quan có một toán thương buôn người Hồ mang đến những con chiến mã tuyệt hảo muốn bán cho quân Tống gia. Bọn họ thiết yến ở tửu lâu trong thành mời ta đích thân đến thương lượng.

Tên thương gia người Hồ đó tửu lượng rất cao, tiếng Hán nói cũng trôi chảy, mới uống vài chén đã bắt đầu xưng huynh gọi đệ.

Ta đang mặc cả với hắn thì cửa phòng bị gõ vang.

“Tống tướng quân.” Người tới là tiểu đồng thân cận của Thẩm Tranh, cung kính trình lên một tấm thiếp, “Chưởng quỹ nói, giá chiến mã lần này, thương gia người Hồ hét giá quá cao. Chợ ngựa tốt nhất ở Tây Bắc là tại Cam Châu, một con chiến mã thượng hạng cũng không quá ba mươi lạng bạc. Nếu Tướng quân không chê, ‘Bắc Vọng’ có thể làm người kết nối, thu mua trực tiếp từ trường ngựa Cam Châu, bớt đi khâu trung gian.”