Ta xuyên đến đây đúng lúc Chu gia vì đắc tội quyền quý mà bị tống ngục.

A nương tán tận gia tài mới cứu được một đôi nhi nữ của a tỷ, chẳng bao lâu sau liền buông tay nhân thế.

Trước lúc lâm chung, bà phó thác hai đứa trẻ cho ta.

“Ta biết con không phải Nghênh Hỉ của ta. Ta đã sai người gửi thư rồi, hai tháng sau sẽ có người tới đón hai đứa nhỏ. Chỉ cầu con chăm nom chúng hai tháng.”

Ta dắt theo hai đứa nhỏ, thuê một sạp bên bờ sông Thất Phổ, bán ruốc thịt và kẹo gạo nổ.

Chỉ là hai tháng rồi lại hai tháng trôi qua, cái sạp của ta gần như sắp thành cửa tiệm rồi.

Vậy mà hai đứa nhỏ vẫn chưa có ai tới đón.

01

Vừa xuyên vào thân xác này, ta đã bệnh nặng một trận.

Cơn sốt vừa lui, ta đã nghe tin Chu gia lụn bại.

Nghe nói là đắc tội quý nhân trong kinh thành.

Chỉ trong một đêm, hơn trăm nhân khẩu toàn phủ đều bị hạ ngục.

Thân tỷ của nguyên chủ là kế thất của nhị thiếu gia Chu gia.

A nương vừa đem lễ vật đi lo lót, vừa quỳ xuống nói lời mềm mỏng.

Cuối cùng cũng được gặp a tỷ một lần.

Cũng chẳng biết hai người đã nói những gì.

Sau ngày ấy, a nương bắt đầu sớm đi tối về.

Ta biết bà đang nghĩ cách cứu a tỷ.

Ta chẳng giúp được gì.

Việc duy nhất có thể làm.

Là mỗi khi bà trở về, nấu cho bà chút đồ nóng hổi.

Thái Thương phía đông giáp Trường Giang, nơi cuối sông đầu biển.

Mùa này cá tươi béo nhất.

Ta cố ý đến chỗ ngư dân mua cá đao còn sống.

Băm thành nhân rồi gói trong lớp vỏ hoành thánh mỏng đến trong suốt.

Từng viên hoành thánh nhỏ xinh nổi chìm trong bát canh trong veo.

Ăn kèm rau mã lan non trộn đậu phụ khô.

Khắp phòng đều thơm nức.

Ngày xuân nhiều mưa.

Lúc a nương bước vào cửa, trên người mang theo mùi hương hoa cam thanh mát quyện hơi nước.

Xuyên qua làn hơi nóng mờ mịt bốc lên từ bát hoành thánh.

Ánh mắt a nương nhìn ta có chút phức tạp.

Sau khi im lặng ăn hơn nửa bát hoành thánh.

A nương lục trong phòng ra một chiếc tráp cũ.

Mở tráp ra, bên trong là một bọc vải xanh đã giặt đến bạc màu.

Từng lớp từng lớp mở ra.

Bên trong là một chiếc vòng tay bạc chạm hoa sen quấn cành.

Còn có một cây trâm bạc trơn, đầu trâm là một đóa hoa chi tử.

“Chiếc vòng này vốn là một đôi, một chiếc đã đưa cho a tỷ con, chiếc này cho con.”

“Còn cây trâm này là của hồi môn a tỷ con tích góp cho con.”

Bà đưa đồ cho ta.

Ta không nhận.

Ta không có tư cách, cũng không nên nhận.

Khương Nghênh Hỉ thật sự đã chết trong trận sốt cao kia rồi.

Khương Nghênh Hỉ hiện giờ, trong thân xác này chỉ là một sợi cô hồn đến từ dị thế.

Huống hồ a tỷ hiện đang thân hãm lao tù, trong nhà chính là lúc cần tiền.

Lời muốn nói có rất nhiều, nhưng trong phòng chỉ còn sự lặng im.

Có lẽ bà biết ta đang nghĩ gì.

A nương đẩy đồ về phía ta.

“Nhận lấy đi, nhận lấy đi.”

“Ta biết con không phải Nghênh Hỉ của ta. Nghênh Hỉ của ta từ nhỏ thân thể đã không tốt, được ta và tỷ tỷ nó nuông chiều, chưa từng xuống bếp nấu cơm.”

Nói xong, bà cầm chiếc tráp ấy vào phòng.

Đêm đó, bà xách tay nải vội vã ra ngoài.

Lúc trở về, tay nải đã không còn.

Nhưng mỗi tay lại dắt một đứa trẻ.

Đứa lớn là một bé trai chừng sáu bảy tuổi.

Đứa nhỏ hơn là một bé gái chừng bốn năm tuổi, mày mắt có vài phần giống a nương.

Hai đứa trẻ đều gầy gò nhỏ bé.

Mặc quần áo cũ không vừa người, đáy mắt đầy kinh hoàng bất an.

Là con của a tỷ.

Có lẽ trong ngục đã bị dọa sợ.

Hai đứa nhỏ như chim sợ cành cong.

Ngay cả hít thở cũng cẩn thận dè dặt.

Trong lòng ta chua xót, xoay người vào bếp.

Nước trong nồi vẫn còn ấm.

Ta nhanh nhẹn nhóm lửa lại.

Lại bốc hai nắm gạo, thái chút thịt nạc nấu thành cháo.

Hai đứa trẻ đói đã lâu, hiện giờ chỉ có thể ăn chút thanh đạm.

Khi hương gạo quyện hương thịt tỏa ra.

A nương cũng vào bếp.

“Hai đứa trẻ, đứa lớn tên Chu Quân Hoài, năm nay sáu tuổi, là con của vị phu nhân trước để lại.”

“Đứa nhỏ tên Chu Thanh Du, bốn tuổi rồi, từ nhỏ thân thể đã yếu. Khi xưa a tỷ con sinh nó là sinh non, ta từng đến thăm, chỉ nhỏ xíu một cục.”

A nương lại đứt quãng nói rất nhiều.

Bà nói vốn dĩ bà chỉ muốn cứu Du tỷ nhi.

Nhưng khi bà bước vào nhà lao, nhìn thấy Hoài ca nhi tự mình sợ đến run rẩy, vậy mà vẫn ôm chặt muội muội trong lòng mà che chở, lòng bà liền mềm xuống.

Bà còn nói, bà cũng có tư tâm.

“Nghe nói nhà mẹ đẻ của vị phu nhân trước cũng là một đại tộc. Ta nghĩ cứu Hoài ca nhi ra, đến lúc đó bọn họ nể tình chúng ta giúp đỡ lúc tuyết rơi đưa than…”

Bà khựng lại, nhìn ra màn đêm nặng nề ngoài cửa.

Cháo đã nấu đến mềm nhừ sánh mịn.

Ta múc hai bát, bưng vào phòng.

Hai đứa trẻ đã thay quần áo, tựa sát vào nhau.

Thấy ta đặt cháo lên bàn.

Đôi mắt Du tỷ nhi nhìn chằm chằm vào bát.

Nhưng tay lại níu vạt áo ca ca, không dám động.

A nương bưng một bát lên, thổi thổi rồi đưa đến trước mặt hai đứa.

“Ngoan nào, nếm thử đi, cháo tiểu di vừa nấu, thơm lắm.”

Hoài ca nhi rốt cuộc lớn hơn vài tuổi.

Biết chúng ta không có ác ý, bèn chậm rãi bưng bát trên bàn lên.

02

Có lẽ vì đã hoàn thành được đại sự trong lòng.

Cả người a nương liền suy sụp.

Ban đầu chỉ là sốt nhẹ, ho khan.

Ta vốn tưởng bà vì bôn ba nhiều ngày nên mệt.

Đại phu bắt mạch, lại hỏi kỹ càng.

Cuối cùng chỉ lắc đầu.

“Tâm khí uất kết, lại nhiễm phong hàn, căn cơ vốn đã tổn thương, thêm vào đó nhiều ngày lao lực kinh hãi, tâm thần hao tổn quá nặng…”

Đại phu bảo ta sớm chuẩn bị hậu sự.

Ta không tin, đổi mấy vị đại phu khác.

Lời nói đều đại đồng tiểu dị.

A nương ngược lại rất bình tĩnh.

Bà không ra ngoài nữa.

Mỗi ngày ngoài nhìn hai đứa trẻ.

Thời gian còn lại đều dạy ta làm ruốc thịt và kẹo gạo nổ mỡ heo.

Gia tài trong nhà từ lúc đón hai đứa trẻ về đã hao sạch.

Ta biết a nương sợ sau khi bà đi rồi.

Ta không có kế sinh nhai để sống.

Để bà yên lòng, ta học rất nghiêm túc.

Nhưng thời gian bà tỉnh táo càng ngày càng ít, thời gian hôn mê ngủ vùi càng ngày càng nhiều.

Đêm hôm ấy, tinh thần bà bỗng tốt lên rất nhiều.

Bà nắm tay ta, đứt quãng nói rất nhiều lời.

Tay bà lạnh như băng, không còn một tia hơi ấm.

Nhưng chẳng hiểu sao lại khiến ta thấy an tâm.

“Ta đã gửi thư đến Tạ gia rồi. Tính theo ngày, hai tháng sau, bên ấy hẳn sẽ có người tới đón hai đứa nhỏ.”

“Chỉ cầu con… cầu con nể tình chúng gọi con một tiếng tiểu di, chăm nom chúng.”

Bà thở gấp, lồng ngực phập phồng dữ dội.

“Chúng sẽ không liên lụy con quá lâu đâu. Đợi Tạ gia tới, con sẽ được tự do.”

“Hài tử, thật xin lỗi, để con vô duyên vô cớ gánh lấy những chuyện này.”

Hơi thở bà càng lúc càng yếu, mấy chữ cuối gần như không nghe rõ.

Đôi mắt vẫn luôn nhìn ta ấy.

Ánh sáng trong đó hoàn toàn lụi tắt.

Nhìn gương mặt a nương an tường mà mỏi mệt.

Ta vô cùng rõ ràng nhận ra.

Ở thời đại hoàn toàn xa lạ này.

Những gì còn có liên hệ với ta.

Chỉ còn hai sinh mệnh yếu ớt, không nơi nương tựa bên cạnh.

Ta đem cây trâm bạc đi cầm, mua cho a nương một cỗ quan tài mỏng.

Số tiền còn lại, mua thêm mấy bộ y phục cho hai đứa trẻ.

Du tỷ nhi là bé gái thì không sao.

Nhưng Hoài ca nhi không thể cứ mặc váy áo ngày nhỏ của ta mãi được.

Mấy ngày chung sống, ta đã nắm rõ tính tình hai đứa nhỏ.

Hoài ca nhi ít nói, nhưng dặn gì cũng ngoan ngoãn làm, hệt như một tiểu nhân máy.

Du tỷ nhi lanh lợi tinh quái, nhưng lá gan rất nhỏ, ban đêm thường bị ác mộng làm tỉnh giấc.

Ta ra ngoài từ sớm.

Giờ về chắc hai đứa trẻ vừa tỉnh.

Vừa khéo có thể ăn bánh rượu nếp ta mua.

Một nửa nhân cỏ ba lá thịt tươi, một nửa nhân đậu đỏ.

Bánh rượu nếp vừa ra lò, lớp ngoài vàng ruộm giòn thơm, vỏ bánh mềm xốp lại hơi dai.

Ăn vào có vị ngọt nhàn nhạt của nếp và mùi rượu nếp.

Vừa đi đến đầu ngõ, ta bị Vương a bà kéo lại.

Bà đưa cho ta một nắm rau tề thái tươi.

Nhìn quanh bốn phía rồi hạ giọng.

“Nghênh Hỉ, con định cứ nuôi hai đứa nhỏ này mãi sao?”

Thấy ta gật đầu, bà nhíu mày.

“Bản thân con vẫn chỉ là một tiểu cô nương thôi, làm sao nuôi nổi hai đứa trẻ?”

“Nghe a bà đi, đưa hai đứa trẻ đi. Đứa lớn đưa vào nhà giàu làm tiểu tư, đứa nhỏ bán cho người ta làm con dâu nuôi từ bé, còn được ít tiền.”

“Nhà mẹ đẻ ta có một đứa cháu trai, trước kia từng gặp con một lần, về rồi cứ khen con mãi…”

Ta không lên tiếng.

Đặt lại nắm rau tề thái, nhanh chân đi về nhà.

Đẩy cửa vào, hai đứa trẻ đều đứng trong sân.

Mắt đỏ hoe, giống hệt thỏ con.

Du tỷ nhi rụt rè đi tới.

“Tiểu di, người đừng đưa chúng con đi, được không?”

“Con và ca ca rất ngoan, ăn cũng rất ít, còn có thể giúp người làm việc.”

Nói rồi, con bé lập tức cầm lấy cây chổi ở góc tường.

Hoài ca nhi thấy vậy cũng lập tức làm theo.

Chỉ thấy nó xách chiếc thùng nước dưới mái hiên, chiếc thùng gần như còn nặng hơn cả người nó.

Lảo đảo đi về phía chum nước.

Thùng quá nặng, nó đi xiêu vẹo.

Nước đổ ra, làm ướt ống quần nó.

Mũi ta cay xè, vội bước lên.

Một tay nhận lấy thùng nước, ngồi xổm xuống ôm chặt hai đứa nhỏ.

“Không đi. Không đưa ai đi hết.”

“Nhà của tiểu di chính là nhà của các con, vĩnh viễn đều như vậy.”

Du tỷ nhi òa lên khóc.

Hoài ca nhi cũng siết chặt vạt áo ta, nhỏ giọng nức nở.

Ta xoa đầu hai đứa nhỏ.

Bắt đầu nghĩ cách kiếm tiền mưu sinh.

03

Thái Thương là vùng đất phúc, sản vật phong phú.

Nào là nem xuân, bánh thanh đoàn, đậu tương ủ rượu, bánh niên cao, canh dê, viên bột chần.

Trái cây đầy ắp, cua béo cúc vàng.

Còn là nơi Trịnh Hòa giương buồm xuống Tây Dương, được xưng là “bến cảng sáu nước”.

Bởi đường thủy phát đạt, thuyền bè qua lại rất nhiều.

Thế là ta thuê một sạp bên bờ sông Thất Phổ.

Bán chút đồ ăn theo mùa.

Ruốc thịt và kẹo gạo nổ mỡ heo thì bốn mùa đều có.

Ruốc thịt rang xong tơi xốp vàng ruộm, mặn ngọt đan xen, dư vị kéo dài.

Kẹo gạo nổ mỡ heo thì dùng nếp ngon chiên đến phồng giòn, rồi trộn đều với mạch nha và mỡ heo mới thắng.

Một miếng nhỏ, cắn một cái, hương mỡ heo, hương gạo và hương đường nổ tung trong miệng, ngọt mà không ngấy.

Ban đầu việc buôn bán không tốt.

Người qua lại đa phần là phu khuân vác ở bến tàu và phụ nhân bản địa.

Phần lớn chỉ thò đầu nhìn, người mua không nhiều.

Hoài ca nhi rất hiểu chuyện, chuyển một chiếc ghế nhỏ ngồi sau sạp giúp ta thu tiền.

Nó không thích nói, nhưng tính toán rất nhanh, hiếm khi sai sót.

Lúc bận rộn, Du tỷ nhi ngoan ngoãn ngồi một bên xem kiến.

Có khách đến, liền cười nói một câu: “Hoan nghênh ghé qua.”

Dần dần cũng thu hút được không ít khách quen.

Hoa xoan ở đầu ngõ nở rồi lại tàn.

Liễu bên sông đâm chồi rồi rợp bóng.

Ngày tháng cứ thế trôi qua trong khói lửa nhân gian.

Khi hoa lựu nở, việc buôn bán ở sạp khá hơn không ít.

Khi hương sen thoảng bay, sạp của ta đã có chút tiếng tăm ở trấn Sa Khê.

Mọi người đều biết Khương nương tử bên bờ sông Thất Phổ làm đồ ăn vặt rất có tư vị.

Chỉ là hai tháng rồi lại hai tháng trôi qua, Tạ gia vẫn chậm chạp không thấy người tới.

Ta không dám nghĩ sâu.

Có lẽ thư còn chưa đưa đến.

Cũng có lẽ Tạ gia không muốn dính vào vũng nước đục này.

Dù sao hai đứa nhỏ ăn cũng chẳng nhiều.

Nếu Tạ gia thật sự đón chúng đi.

Có lẽ ta cũng sẽ hụt hẫng rất lâu.

Chớp mắt đã sắp tới Thất Tịch.

Tương truyền Thái Thương là nơi Ngưu Lang Chức Nữ giáng sinh.

Mỗi khi đến tiết Nữ Nhi, khắp nơi đều tổ chức hội hương lớn.

Ở hiện đại làm trâu làm ngựa bao năm, ta còn chưa từng tham gia lễ hội long trọng thế này.