Thế nhưng đêm nay chàng, đã ngồi lâu hơn không chỉ một khắc.
5
Tần ma ma rời đi từ sáng sớm hôm sau, mang theo chiếc hộp gỗ tử đàn.
Hơn hai mươi ngày sau, Bùi gia theo thông lệ đưa áo mùa hè vào cung. Người đến là Ngô bà tử bên cạnh mẫu thân. Đồ đạc giao nhận xong, bà ta chưa đi, rút từ trong ngực ra một phong thư.
“Đại cô nương bảo mang cho nương nương.”
Trên phong bì không có chữ. Ta xé mở, bên trong là một tờ giấy hoa tiên mỏng tang, chỉ viết sáu chữ.
Là chữ của a tỷ. Chữ của a tỷ do đích thân tổ mẫu cầm tay chỉ dạy, từng nét bút đều có quy củ. Nhưng sáu chữ này viết rất mạnh, nét cuối cùng đâm rách cả giấy.
“Ngươi ăn cắp mạng của ta.”
Ngô bà tử cúi đầu, nhỏ giọng nói: “Ngày thứ hai Tần ma ma trở về, lão phu nhân đã đuổi bà ta đến trang điền ở ngoại ô kinh thành. Lão phu nhân ở trong phòng đại cô nương nói, nhị cô nương bây giờ ở trong cung thật sự đã nắm quyền rồi, ngay cả Tần ma ma cũng không chứa nổi.”
Ta gấp tờ hoa tiên lại.
“Ta biết rồi. Ngươi ra ngoài đợi một lát.”
Ngô bà tử lui ra ngoài.
Ta ngồi lại trước bàn trang điểm, lại mở tờ giấy ra, nhìn sáu chữ đó.
Rồi ta khóc.
Sau năm sáu tuổi, ta chưa từng khóc trước mặt người khác, sau này ngay cả trốn đi khóc cũng không khóc được nữa. Nhưng hôm đó nước mắt không cầm được, từng giọt rơi xuống giấy, làm nhòe nét bút a tỷ vạch rách.
Hà cô cô ở gian ngoài, không tiến vào.
Khóc xong, ta rửa mặt, mài mực, viết một dòng chữ lên mặt sau tờ hoa tiên:
“Mạng này không phải ta đòi, là tổ mẫu cho.”
Ta gập lại giao cho Ngô bà tử, lại nhét cho bà ta một thỏi bạc.
“Giao cho đại cô nương, chỉ giao cho một mình tỷ ấy.”
Ngày hôm sau là mùng chín tháng Sáu.
Giờ Dậu, ngoài cửa cung truyền vào một tiếng báo.
Muỗng trà trong tay ta suýt rơi xuống. Hôm nay không phải mùng một, cũng không phải mười lăm.
Chàng bước vào, ngồi xuống sập gụ dưới cửa sổ, giống như mỗi một lần trước đây.
Chàng không hỏi mắt ta tại sao sưng đỏ, ta cũng không hỏi chàng hôm nay tại sao lại đến.
Ta pha trà, chàng uống.
Thanh tên nổi đủ một vạch, Hà cô cô nói ngoài cửa: “Bệ hạ, đến giờ rồi.”
“Biết rồi.”
Chàng không nhúc nhích.
Một lát sau, chàng đặt chén trà xuống, đột nhiên hỏi:
“Nếu có một ngày nàng xuất cung, muốn sống ở nơi thế nào?”
Ta há miệng, không đáp được.
Từ nhỏ đến lớn, ta ở viện nào, mặc y phục gì, giờ nào dậy giờ nào ngủ, gả cho ai, đều là người khác định đoạt xong mới báo cho ta. Chưa từng có ai hỏi ta muốn gì.
“Thần thiếp chưa từng nghĩ.”
“Vậy thì nghĩ.” Chàng nói, “Nghĩ xong rồi, nói cho trẫm.”
Chàng lại ngồi thêm nửa canh giờ mới đi.
Ta tiễn chàng đến cửa điện, lúc trở về, thấy Hà cô cô đang múc nước từ trong bình dưới đồng hồ ra. Nước bớt đi một chút, thanh gỗ cũng theo đó chìm xuống, lùi về nửa vạch.
Bà ngẩng đầu lên, biết ta đã nhìn thấy.
Bà không nói gì cả.
6
Từ đó về sau, mỗi dịp mùng một, mười lăm, chàng đều hỏi một chút.
Mười lăm tháng Sáu, ta nói, muốn một cái sân viện, không cần lớn.
Chàng hỏi: “Mấy gian?”
“Một gian là đủ.”
Mùng một tháng Bảy, ta nói, trong sân phải có một cái giếng.
“Giếng ở hướng nào?”
“Hướng Đông. Lúc múc nước không bị nắng.”
Mười lăm tháng Bảy, ta nói, mái hiên phải hướng Nam, mùa đông có thể ngồi dưới hiên phơi nắng.
Chàng ừ một tiếng, lát sau lại nói: “Bên giếng đặt một tảng đá xanh. Nàng múc nước xong, tiện ngồi nghỉ ngơi.”
Đây là lần đầu tiên chàng, thêm đồ vật vào sân viện của ta.
Mùng một tháng Tám, ta nói, trong sân không đánh canh. Giờ nào dậy, giờ nào ngủ, tự ta định đoạt.
Chàng nhìn ta: “Không đánh canh, sao nàng biết giờ giấc?”
“Không biết cũng chẳng sao.”
Chàng không nói gì, quay đầu nhìn chiếc đồng hồ nước góc điện, nhìn rất lâu.
Không biết bắt đầu từ lần nào, khi chàng đi, ta sẽ tiễn đến cửa cung. Chàng không quay đầu, ta cũng không gọi chàng. Hà cô cô xách đèn, đi theo phía sau ta.
Mùa thu năm đó mở ân khoa. Ngày yết bảng, tiến sĩ xuất thân hàn môn có hơn bảy mươi người. Cung nhân lén lút đồn, người của thế gia giẫm nát bậu cửa nhà chủ khảo quan, cũng chẳng vớt vát được lợi lộc gì.
Mùa đông, một trong ba đại doanh ở kinh kỳ thay chủ tướng, binh quyền thuộc về bệ hạ.
Tháng Chạp, cung nhân trong cung Trường Thu buôn chuyện dưới hành lang, nói Bùi Thượng thư của Lại bộ qua năm sau e là phải dời chỗ rồi.
Bùi Thượng thư là phụ thân ta. Ông đã ngồi ở Lại bộ chín năm.
Năm thứ ba vào cung, ngày mười tám tháng Giêng, mẫu thân tới.
Lần này bà ngay cả trà cũng không uống, bước vào cửa liền cho cung nhân lui ra ngoài.
“Chuyện phụ thân con, con nghe nói rồi.”
“Con nghe nói rồi.”
“Tổ mẫu con nói, con hiện giờ đã có thể nói chuyện trước mặt bệ hạ.” Mẫu thân nhìn ta, “Gần đây bệ hạ ở chỗ con nói nhiều hơn, con còn tiễn ngài ấy ra đến cửa cung, người trong nhà đều biết.”
Ta không nói gì.
Tần ma ma đi rồi, cung Trường Thu vẫn còn có người khác.
“Tổ mẫu bảo con đi cầu xin bệ hạ, giữ phụ thân con lại Lại bộ.” Giọng mẫu thân hạ xuống, “Quỳ xuống cầu xin, khóc lóc cầu xin, cầu xin thế nào cũng được.”
“Mẫu thân,” ta nói, “Con không biết khóc.”
Mẫu thân sững sờ.
Mùng một tháng Hai, chàng tới.

