Ta pha xong trà đưa qua, không quỳ, cũng không vòng vo.
“Trong nhà muốn thần thiếp cầu xin bệ hạ, giữ phụ thân lại Lại bộ.”
Chàng bưng chén trà, nhìn ta.
“Thần thiếp tới cầu xin rồi.” Ta nói, “Bệ hạ có thể không chuẩn tấu.”
Trong điện tĩnh lặng một hồi.
“Không chuẩn.”
“Vâng.” Ta nói, “Thần thiếp cầu xin xong rồi.”
Chàng cúi đầu uống trà, không nói thêm gì nữa.
Đồng hồ nước vẫn đang nhỏ giọt, thanh gỗ chỉ nổi một nửa vạch nhỏ.
Ta nhìn thanh tên đó, rốt cuộc cũng hỏi ra miệng:
“Bệ hạ, ngày phế hậu, đã định chưa?”
Chàng đặt chén trà xuống.
Ánh mắt chàng rơi lên chiếc đồng hồ nước kia.
“Chiếu thư từ tháng thứ hai đại hôn trẫm đã soạn xong rồi.”
“Chỉ thiếu ngày tháng.”
Ta nói: “Vâng.”
Ta nhớ tới miệng giếng đó, tảng đá xanh đó, cái sân viện không đánh canh đó.
Thì ra khi chàng hỏi ta muốn sống ở đâu, chiếu thư đã thảo xong. Miệng giếng đó, tảng đá xanh đó, đều là sau khi bị phế mới có.
Thanh tên nổi đủ một vạch. Hà cô cô nói ngoài cửa: “Bệ hạ, đến giờ rồi.”
Chàng đứng dậy, đi ra cửa điện.
Ta ngồi đó, không nhúc nhích.
Kể từ khi bắt đầu tiễn chàng ra cửa, đây là lần đầu tiên ta không đứng dậy.
7
Rằm tháng Hai, mùng một tháng Ba, chàng vẫn đến như thường lệ.
Ta vẫn pha trà. Chàng không hỏi về sân viện nữa, ta cũng không nhắc tới. Thanh tên nổi đủ một vạch, chàng đứng dậy, ta ngồi yên.
Đầu tháng Ba, lệnh thuyên chuyển của phụ thân giáng xuống, từ Thượng thư Lại bộ đổi thành Thái thường tự khanh. Thái thường tự quản lý tế tự lễ nhạc, cung nhân đồn rằng, đó là chỗ dưỡng lão.
Mùng bốn tháng Ba, mẫu thân lại vào cung.
Lần này, thứ bà lấy ra từ trong ống tay áo không còn là hộp nhang.
Bà cho cung nhân lui xuống, đặt một chiếc bình sứ xanh nhỏ lên bàn kỷ. Chiếc bình chỉ cao bằng hai ngón tay, trên cổ quấn một vòng chỉ đỏ đã phai màu.
Bà không đẩy qua, cứ để đó, tay vẫn đè lên trên.
“Tổ mẫu con bảo ta mang tới một câu.”
“Mẫu thân xin cứ nói.”
Môi mẫu thân mấp máy hai cái, mới nói ra câu đó:
“Bùi gia không có con gái bị phế đuổi về nhà. Nếu thật có ngày đó, nương nương hãy ra đi giữ thể diện một chút.”
Ta nhìn chiếc bình đó.
Ngày mẫu thân tiễn ta lên kiệu, bà nói một câu khác. Bà nói, nếu thật sự có ngày đó, con về nhà, Bùi gia vẫn nuôi nổi con.
Mới trôi qua hơn một năm.
“Mẫu thân,” ta hỏi, “Nếu con không uống thì sao?”
Bàn tay mẫu thân rời khỏi chiếc bình.
Bà khóc.
Mặt a tỷ bị hủy dung, một ngày bà chạy tới viện kia tám bận, mắt chưa từng khô. Lúc ta xuất giá, bà lại không khóc. Đây là lần đầu tiên, ta thấy bà rơi nước mắt vì ta.
Thế nhưng bà khóc xong, lấy khăn tay chấm khóe mắt, vẫn cầm chiếc bình đó lên, nhét vào tay ta.
“Tổ mẫu con nói, con hiểu chuyện nhất, sẽ không khiến người khác khó xử.”
Bà đi rồi.
Ta nắm chặt chiếc bình đó, mãi đến khi thân bình lạnh buốt được lòng bàn tay ủ ấm.
Bùi gia hai lần nhờ mẫu thân đưa đồ vào, đều là muốn làm chủ thay ta.
Lần đầu, muốn ta giữ chàng lại.
Lần này, muốn ta chết.
8
Ta không chạm vào nút bình.
Ta đặt chiếc bình trên bàn trang điểm, ngay trước gương, ngước mắt lên là có thể nhìn thấy.
Đoạn đường sau này, ta đã nhiều lần suy đi tính lại.
Nếu bị phế, theo lệ cũ phải trả về gia tộc. Nhưng Bùi gia không có con gái bị phế đuổi về nhà, thứ Bùi gia chờ đợi, chỉ là thi thể của ta.
Nếu không bị phế, đợi đến ngày chàng động vào Bùi gia, ta vẫn là con gái Bùi gia, vẫn là hoàng hậu.
Tiên hoàng hậu đến phút cuối, vẫn là hoàng hậu.
Chiếu thư đã định xong từ lâu. A tỷ hận ta.
Suy đi tính lại, vậy mà lại không có lấy một chốn đi.
Rằm tháng Ba, chàng tới.
Ta pha trà. Chàng uống một ngụm, nhìn ra ngoài cửa sổ, chợt mở lời:
“Cổng viện, nàng muốn mở hướng nào?”
Ta ngẩng đầu lên.
Sau mùng một tháng Hai, chàng không còn hỏi về sân viện nữa. Ta cứ ngỡ chàng sẽ không hỏi lại.
Ta ngẫm nghĩ, không đáp được.
“Bệ hạ,” ta nói, “Thần thiếp chắc không dùng đến viện tử đó nữa.”
Chàng bỏ chén trà xuống.
“Có ý gì?”
Ta không nói chuyện.
Chiếc bình đặt ngay trên bàn trang điểm, cách chàng chưa tới mười bước chân. Ta chỉ cần nâng tay lên, chỉ cho chàng xem là được.
Ta không nâng tay.
Nếu ta nói, chính là đích thân nói cho chàng biết, mẫu thân vào cung đưa thuốc độc cho ta. Lời lên đến cổ họng, lại nuốt xuống.
Chàng nhìn ta, nhìn rất lâu. Ta cúi đầu, nhìn lá trà trong chén.
Thanh tên nổi đủ một vạch, Hà cô cô nói ngoài cửa: “Bệ hạ, đến giờ rồi.”
Chàng đứng dậy bước ra đến cửa điện, dừng lại.
“Bùi Hàm Chương.”
Đây là lần thứ hai chàng gọi tên ta. Lần trước, vẫn là đêm đại hôn.
“Chuyện trẫm đã hứa với nàng, vẫn được tính.”
Chàng đi rồi.
Đêm đó, ta nắm chặt chiếc bình ngồi trên sập gụ. Từ giờ Hợi đến giờ Mão, đồng hồ nước vang lên rả rích suốt đêm.
Đến khi trời sáng, ta đã nghĩ thông một việc.
Ta vẫn không biết, Bùi gia có một ai vì ta mà đau lòng hay không.
Ta phải biết rõ chuyện này đã.
Ta đặt bình về bàn trang điểm, gọi Hà cô cô tiến vào mài mực.
“Ta muốn hạ một đạo ý chỉ,” ta nói, “Triệu đại cô nương tiến cung.”
Hà cô cô liếc nhìn chiếc bình trên bàn trang điểm, không hỏi gì, xắn tay áo mài mực.

