Tôi nhận ra ngay cái giếng cổ nằm giữa sân. Quả nhiên nó hoàn toàn tách biệt với cảnh hoang tàn xung quanh. Miệng giếng hình bát giác, ghép bằng những khối đá xanh khổng lồ. Trên mặt đá bám rêu phong nhưng rất sạch sẽ, không có chút dấu vết nào của ngọn lửa.
Giếng bị đậy bằng một tấm đá phiến cực dày. Tôi bước lại gần, thử đẩy phiến đá. Phiến đá không hề nhúc nhích.
Tôi ngồi thụp xuống, quan sát kỹ lưỡng phiến đá xanh trên miệng giếng. Tôi phát hiện ở mặt bên của một trong những viên đá có khắc một họa tiết cực nhỏ, gần như không thể nhận ra.
Tôi nhận ra nó. Đó chính là những đường nét vặn vẹo như thân rắn mà bố tôi đã điên cuồng vẽ hàng trăm lần trong ác mộng. Có điều, những đường nét của họa tiết này bị đảo ngược lại, như hình phản chiếu trong gương.
Một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi. Tôi đưa tay phải ra, dùng ngón tay vạch theo nét họa tiết bị đảo ngược đó lên mặt phiến đá.
Khi tôi hoàn thành nét vẽ cuối cùng, tiếng “cạch” rất khẽ vang lên. Mặt đất dưới chân khẽ rung lên. Phiến đá trên miệng giếng từ từ trượt sang một bên, lộ ra một khoảng không đen ngòm.
Nhưng đó không phải là giếng. Đó là một đường hầm bằng đá dẫn xuống phía dưới.
Không chút do dự, tôi nhặt một cành củi cháy dở trong đống đổ nát, cầm nó như cầm đuốc, rón rén bước xuống.
Đường hầm không dài, chừng hai ba mươi bậc thang. Nhưng bên dưới là cả một bầu trời khác. Đó là một tầng hầm rộng rãi, khô ráo. Trên vách tường nạm mấy viên Dạ minh châu phát ra ánh sáng xanh lục ma mị.
Đây mới là nơi ẩn náu thực sự của Hồ Bán Tiên. Toàn bộ căn hầm trông như một thư phòng kiêm phòng làm việc khổng lồ. Dựa lưng vào vách tường là những giá sách cao chạm trần, xếp đầy những cuốn sách cổ đóng bìa bằng chỉ. 《Kham Dư Lục》, 《Hám Long Kinh》, 《Thanh Nang Áo Ngữ》… Toàn những tựa sách tôi không quen, nhưng tôi có thể cảm nhận được sức nặng của chúng.
Bên kia là một chiếc bàn Bát Tiên cỡ lớn. Trên bàn đặt la bàn, chu sa, bùa chú và đủ loại pháp khí mà tôi không gọi tên được.
Nơi này được bảo tồn một cách hoàn hảo. Ngọn lửa kinh hoàng bên ngoài không thể bén mảng tới dù chỉ một phân.
Hồ Bán Tiên đã sớm dự liệu được kết cục của mình. Ông ấy đã dùng cái chết giả để giữ lại một nơi trú ẩn an toàn cho những bí kíp thực sự. Đồng thời, cũng để lại cho tôi một tia hy vọng sống sót.
Trên bàn Bát Tiên, tôi nhìn thấy một cuốn sổ ghi chép bìa da bò dày cộp đang mở sẵn. Giấy đã ố vàng, nét chữ là kiểu tiểu khải bằng bút lông rất có lực.
Bốn chữ viết to tướng ở trang đầu tiên đập vào mắt tôi: “ĐỊA MÔN CHI ÁCH” (Tai ương Cổng Địa ngục).
Toàn thân tôi dựng đứng cả lông gai. Tôi đọc tiếp xuống dưới.
“Năm Quý Sửu, mùa hè, long mạch vùng Lý Gia Oa dị động, sát khí xung thiên. Lão phu nhận lời nhờ vả của Lý Đại Điền, xem phong thủy âm dương.
Thấy tại góc Tây Nam mảnh vườn nhà hắn, tử khí ngưng tụ, chính là nơi đặt phong ấn ‘Địa Môn’.
Cổng này do một vị cao nhân triều trước thiết lập, dùng tinh túy của đồng thạch để trấn yểm thứ ô uế dưới lòng đất. Đã trải qua hàng trăm năm, linh khí của vật trấn yểm cạn kiệt, phong ấn lỏng lẻo.
Lão phu đã hết lời khuyên can, nhưng kẻ đó quá mức u mê, sợ sẽ rước đại họa.
Nếu hắn cưỡng chế phá ấn, cửa mở ra, thứ ô uế xuất thế, đặc tính của nó là sợ kim, kỵ hỏa, ghét dương.
Cần lấy bảy loại kim loại (thất kim) nung chảy, mượn lửa từ gỗ đào sét đánh, vào đúng ngọ giờ dương, rèn thành ‘Đinh Trấn Hồn’ (Đinh chốt hồn). Dùng đinh này đóng vào trung khu của Địa Môn, may ra có thể phong ấn lại trăm năm.
Tuy nhiên, người rèn đinh sẽ phải gánh lấy nhân quả của nó, cửu tử nhất sinh.
Lão phu lưu lại phương pháp này ở đây, chờ người có duyên.
Ai đọc được bức thư này, chính là người phá giải kiếp nạn.
Tuyệt đối ghi nhớ. Tuyệt đối ghi nhớ.”
Cuối cuốn sổ có vẽ một họa tiết phức tạp. Là hình dạng của một chiếc đinh sắt. Trên đầu đinh có khắc chính họa tiết hình rắn đảo ngược đó.
Cầm cuốn sổ, tay tôi run lên bần bật. Hóa ra, mọi thứ đều nằm trong sự tính toán của Hồ Bán Tiên. Ông ấy không chết. Ông ấy dùng cả tính mạng của mình để mở đường cho tôi.
Ông ấy biết tôi sẽ đến. Biết tôi sẽ tìm thấy nơi này. Ông ấy đã để lại cho tôi cách duy nhất để đối phó với thứ gọi là “Địa Môn”.
Đinh Trấn Hồn.
Nhìn cái tên này, ánh mắt tôi rực lửa. Tôi đã có phương hướng. Tôi đã có vũ khí. Tôi không còn là thằng nhóc phải tháo chạy bán sống bán chết nữa.
Tôi là một kẻ đồ long mang trên mình sứ mệnh.
17
Tôi rời khỏi căn hầm bí mật của Hồ Bán Tiên. Trước khi rời đi, tôi dập đầu ba cái thật kêu trước thư phòng.
Tôi giấu cuốn sổ tay bìa da bò và một chiếc gương bát quái nhỏ bằng đồng trên bàn vào trong áo. Cuốn sổ tay là bản đồ của tôi. Còn chiếc gương là pháp khí thầy Hồ để lại, cuốn sổ ghi rằng nó có thể che giấu người mang khỏi sự rình rập của tà ma.

