Chỉ có một dòng nước đen ngòm tanh tưởi trào ra từ bụng cô ta.

Cô ta ôm chặt tay lái, ngoảnh lại thét lớn với tôi.

“Chạy đi!”

Tôi vồ lấy dao rựa cũ, xoay người lao vụt vào rừng.

Phía sau chiếc xe máy gầm rú điên loạn.

Tiếng khóc của người phụ nữ áo xanh xen lẫn tiếng cười của lớp màng ối dưới yên xe.

Tôi chạy thục mạng mấy chục bước, viên ngọc vảy trong tay đột nhiên tỏa sáng.

Luồng sáng trong vắt xuyên qua kẽ tay, hắt lên một thân cây xiêu vẹo phía trước.

Trên vỏ cây nổi lên một hàng chữ ướt nhẹp.

Đi về phía Bắc ba dặm, tìm Bà mù.

Nét chữ không phải của cha tôi.

Mảnh mai hơn.

Tựa hồ như do phụ nữ dùng móng tay khắc ra.

Tôi ngoái lại nhìn một cái.

Người phụ nữ áo xanh đã bị chiếc xe kéo lê trên mặt đất.

Bụng cô ta toác ra, một bàn tay nhỏ nhắn màu xanh đen thò ra từ bên trong, níu chặt tóc cô ta lôi tuột xuống gầm xe.

Thế nhưng cô ta vẫn nhìn tôi.

Không biểu cảm.

Không nước mắt.

Chỉ dùng khẩu hình mấp máy nói với tôi.

Đi đi.

Tôi cắn chặt răng, lao thẳng về phía khu rừng rậm ở phương Bắc.

Đằng sau vẳng tới tiếng khóc xé tai của trẻ sơ sinh.

Ngay sau đó, chiếc xe máy phát nổ.

Ngọn lửa hắt bừng lên tận ngọn cây.

Nhưng ngọn lửa đó không có màu đỏ.

Mà là màu xanh của dòng nước.

Trong ngọn lửa xanh, một cái bóng đen nhỏ xíu vừa mới ra đời bò ra, bám trên thân cây, lồm ngồm bò thục mạng về phía tôi.

Nó vừa bò, vừa dùng giọng của Triệu Thanh Hà the thé gọi.

“Hứa Hòe.”

“Mày cầm mắt nước.”

“Mày chạy đi đâu, nợ nước sẽ bám theo mày đến đó.”

Tôi dốc hết sức bình sinh mà chạy.

Cánh rừng phía Bắc càng lúc càng rậm rạp.

Rễ cây tựa những con rắn uốn lượn trên mặt đất.

Mấy lần tôi vấp ngã, viên ngọc vảy trong lòng bàn tay cũng bị máu bết lại.

Nhưng hễ tôi siết chặt nó, tiếng bò lê phía sau sẽ chậm lại.

Đoạn đường núi ba dặm, tôi lầm lũi đi suốt hơn một tiếng đồng hồ.

Mặt trời đã lên cao.

Thế nhưng trong rừng không hề có chút hơi ấm nào.

Phía trước hiện ra một bãi tha ma.

Chính giữa bãi tha ma, có một túp lều đất thấp lè tè.

Trước cửa túp lều treo lủng lẳng một chuỗi chuông gió bằng xương trắng.

Gió thổi qua, chuông xương khẽ kêu vang.

Leng.

Keng.

Leng.

Tôi bước đến trước cửa, chưa kịp mở lời, người bên trong đã lên tiếng bằng một chất giọng phụ nữ khàn đặc.

“Đừng vào.”

“Đặt mắt nước trong tay cô lên bậu cửa đi.”

Tôi khựng lại.

“Bà là Bà mù?”

Người bên trong bật cười một tiếng.

“Mù là đôi mắt.”

“Không mù là cái mạng.”

Tôi không làm theo lời bà ta.

“Ai cử tôi đến đây?”

Phía sau cánh cửa chìm vào im lặng trong chốc lát.

Rồi chất giọng khàn đặc ấy hạ thấp xuống.

“Một người đàn bà mười năm trước bị Triệu Thanh Hà lừa lên núi.”

“Cô ta tên Tống Liên.”

“Nếu cô ta còn cản được chiếc xe thai đó, thì hiện tại cô còn nửa nén hương sống.”

Sống lưng tôi sởn gai ốc.

Người trong nhà nói tiếp.

“Nửa nén hương sau, Triệu Thanh Hà sẽ tìm đến đây.”

“Hắn không đến để giết cô.”

“Hắn đến để rước dâu.”

14

Hai chữ “rước dâu” vừa thốt ra, chuông xương trong bãi tha ma đồng loạt khua vang.

Tiếng chuông leng keng leng keng.

Âm thanh giòn giã dày đặc, hệt như vô vàn chiếc răng đang run bần bật trong gió.

Tôi đứng ngoài ngạch cửa, chằm chằm nhìn cánh cửa gỗ đen xì.

“Rước dâu cho ai?”

Bà mù trong nhà nói: “Cho cô.”

Tôi nắm chặt chuôi dao rựa.

“Tôi không quen biết Triệu Thanh Hà.”

“Cô có quen biết hay không đâu quan trọng.”

Giọng Bà mù chậm rãi thong thả.

“Năm xưa mẹ cô là người cúng tế thứ chín.”

“Cô là thai nhi tế lễ thứ chín duy nhất còn sống sót.”

“Thứ nhà họ Triệu cần chưa từng là thịt Bạch long.”

“Là cô.”

Tôi nghe mà ngực nặng trĩu.

“Vậy tại sao bọn chúng phải chờ đến bây giờ?”

Trong nhà vọng ra tiếng gõ gậy cọc cạch.

Từng nhịp.

Từng nhịp.

Chầm chậm áp sát sau cánh cửa.

“Bởi vì trước khi hồ chứa nước cạn, mạng của cô được giấu dưới đáy nước.”

“Bạch mẫu đã từng nhìn cô, cũng từng che chở cho cô.”

“Cha cô dùng mệnh bài để yểm tên cô.”

“Bọn chúng không tìm được một cô toàn vẹn.”

“Bây giờ cô đốt tên, đoạn tuyệt nợ nước, cũng tự tay bẻ gãy lá bùa che chở sinh mệnh.”

“Triệu Thanh Hà chỉ cần cưới cô, lại đoạt lấy mắt nước, hắn liền có thể tiếp quản toàn bộ mạch nước.”

Tôi buột miệng hỏi, mắt nhìn viên ngọc vảy trong tay.

“Tiếp quản mạch nước để làm gì?”

Bà mù cười khẩy.

“Làm ăn buôn bán.”

“Nhà họ Triệu bao năm qua mở bãi khai thác cát, bạt núi, chặn sông, lấp ao.”

“Chúng đâu còn thèm khát con nước nhỏ của một ngôi làng nữa.”

“Chúng muốn dẫn huyết mạch này ra thẳng thị trấn.”

“Dùng sinh khí người sống để yểm oán khí.”

“Rồi dùng dòng nước oán hận để nuôi dưỡng của cải.”

Dạ dày tôi cồn cào buồn nôn.

“Trên thị trấn đông đúc thế kia, hắn ta điên rồi sao?”

“Điên?”

Bà mù khựng lại sau cánh cửa.

“Nhà họ Triệu chưa bao giờ điên cả.”

“Điên là lũ người biết rõ trong nước có oan hồn, mà vẫn ngửa tay nhận tiền ấy.”

Bà dứt lời, qua khe cửa đẩy ra một chiếc bát.

Một chiếc bát sành thô kệch.

Trong bát đựng mớ tro đen xì.

“Đặt mắt nước vào đây.”

Tôi đứng im bất động.

“Dựa vào đâu tôi phải tin bà?”

Sau cánh cửa lại im lặng một hồi.