Rồi ô cửa sổ nhỏ bên trên cánh cửa gỗ bật mở.

Một bà lão đứng bên trong.

Hốc mắt bà trống hoác.

Không có nhãn cầu.

Hai hốc mắt nhét hai đồng tiền xu.

Đồng tiền xu rỉ sét xanh lè ố đen.

Tim tôi thắt lại buốt giá.

Bà mù ngẩng mặt lên.

“Đôi mắt này của ta, chính là vì năm xưa nhìn thấy thứ không nên nhìn, bị Triệu Vạn Thành móc ra vứt xuống hồ chứa nước đấy.”

“Ta chưa chết, là nhờ cha cô kéo từ mương nước lên.”

“Ta nợ ông ấy một mạng.”

“Cũng nợ mẹ cô một câu nói.”

Giọng tôi khô khốc.

“Câu nói gì?”

Bà mù đáp: “Bà ấy nhờ ta nói với cô, nếu có một ngày cô đi đến bước này, đừng oán hận bản thân vì đã sống sót.”

Mũi tôi cay xè.

Bà mù nhích bát về phía tôi thêm một chút.

“Mắt nước không thể ở mãi trên xác thịt người sống.”

“Tay cô đang rỉ máu, nó sẽ coi cô là giếng mới.”

“Đợi Triệu Thanh Hà đến, hắn chỉ cần gọi một tiếng tên cũ của cô, mắt nước sẽ lập tức khai mở trên người cô.”

Tôi cúi nhìn lòng bàn tay.

Xung quanh vết thương đã mọc ra một vòng vảy trắng mỏng manh.

Lớp vảy trắng phập phồng theo nhịp thở của tôi.

Tôi không ngần ngại nữa, đặt viên ngọc vảy vào trong bát.

Lớp tro đen vừa chạm vào ngọc vảy, lập tức bốc khói trắng mù mịt.

Ánh sáng trong vắt của ngọc vảy bị dập tắt đi.

Vảy trắng trong lòng bàn tay cũng từ từ lặn sâu vào da thịt.

Tôi đau đớn giật thót người.

Bà mù thụt chiếc bát lại.

“Vào đi.”

Tôi bước qua ngạch cửa.

Bên trong túp lều còn tối tăm hơn bên ngoài.

Trên tường treo la liệt quần áo cũ.

Đều là quần áo phụ nữ.

Có áo cưới màu đỏ.

Có áo vải xanh.

Có áo hoa nhí.

Dưới vạt của mỗi bộ quần áo, đều được khâu một chiếc túi vải nhỏ.

Trong túi căng phồng, không biết đựng thứ gì.

Bà mù đặt chiếc bát lên bàn thờ.

Bàn thờ không có tượng thần.

Chỉ có một tấm gương vỡ nát.

Tấm gương nứt thành chín mảnh.

Mỗi mảnh đều phản chiếu một bề mặt nước khác nhau.

Có hồ chứa nước.

Có Đầm Hắc Long.

Có dòng sông ngầm.

Còn có một dòng sông cuồn cuộn đục ngầu mà tôi chưa từng thấy bao giờ.

Bà mù vuốt ve khung gương, nói nhỏ: “Bến đò cũ nằm trên con sông này.”

“Triệu Thanh Hà đã chuẩn bị sẵn thuyền.”

“Trên thuyền có kiệu hoa đỏ, nến hỷ, bài vị của cha mẹ cô.”

Sống lưng tôi tê rần.

“Hắn ta muốn ép tôi đi?”

“Không phải ép.”

Bà mù nói.

“Là lừa gạt.”

“Hắn biết cô coi trọng tình nghĩa.”

“Hắn sẽ khiến cô lầm tưởng, hồn phách cha mẹ cô vẫn nằm trong tay hắn.”

Tôi chợt nhớ đến mảnh giấy nhắn giả mạo vừa nãy, tim thắt lại.

“Hắn sẽ giả làm cha tôi sao?”

Bà mù lắc đầu.

“Còn tởm lợm hơn thế nữa cơ.”

Vừa dứt lời, chuông xương ngoài sân bỗng nhiên ngưng bặt.

Khoảnh khắc ấy, cả bãi tha ma chìm vào im lặng tĩnh mịch, không một gợn gió thổi qua.

Sắc mặt Bà mù tái nhợt.

“Hắn đến rồi.”

Tôi vồ lấy dao rựa.

Bên ngoài vọng đến tiếng kèn xô-na.

Xa xôi.

Nhưng đang đến gần.

Nhạc điệu đó không phải khúc nhạc tang ma.

Là nhạc hỷ.

Tiếng kèn the thé nhọn hoắt, chọc thẳng vào màng nhĩ, như có bàn tay cầm kim đang chọc ngoáy trong não tủy.

Tôi lách người dòm qua khe cửa.

Nơi cuối bãi tha ma, xuất hiện một đoàn rước dâu.

Tám gã người giấy cáng một cỗ kiệu hoa đỏ chót.

Mặt mày người giấy trắng bệch, nhợt nhạt, bờ môi tô son đỏ chót như máu tươi.

Trước kiệu, có hai đứa trẻ rải tiền giấy.

Tiền giấy vừa rơi xuống đất, lập tức hóa thành những lớp vảy đỏ sũng nước.

Dẫn đầu đoàn rước, là một người đàn ông mặc âu phục đen.

Hắn che một chiếc ô màu đen.

Dưới chiếc ô là một khuôn mặt nhợt nhạt.

Mắt ti hí thon dài.

Trông có vẻ hao hao giống Triệu Vạn Thành.

Tôi nhận ra rồi.

Triệu Thanh Hà.

Hắn dừng bước cách túp lều đất chừng mười mấy bước chân, ngẩng mặt lên nhìn cửa.

“Hứa Hòe.”

Hắn tủm tỉm cười.

“Tôi đến đón cô về nhà.”

Tôi không đáp.

Bà mù vớ lấy cây kéo, cắt đứt sợi dây màu đen treo lơ lửng sau cánh cửa.

Tấm gương nứt trên bàn thờ thoắt cái tối sầm lại.

Bà hạ thấp giọng.

“Nhớ kỹ.”

“Bất kể hắn lôi thứ gì ra, bất kể hắn cho cô nhìn thấy ai.”

“Không được khóc.”

“Nước mắt người sống là bùa dẫn nước tốt nhất.”

Triệu Thanh Hà như thể nghe thấy câu nói này, bật tiếng cười nhẹ.

“Bà mù.”

“Bà già cả đến ngần này tuổi rồi, hơi đâu rỗi việc xen vào chuyện người khác.”

Bà mù lạnh giọng đáp trả: “Cha ngươi chết rữa trong nước rồi, ngươi còn dám mặc quần áo tân lang sao.”

“Cha tôi già rồi.”

Triệu Thanh Hà đáp lại bình thản.

“Ông ta chỉ biết ăn thịt uống máu.”

“Quá phàm phu tục tử.”

“Tôi thì khác.”

“Tôi biết nên mời ai dự tiệc, nên cho ai ngồi kiệu.”

Vừa dứt lời, hắn giơ tay khẽ phẩy.

Rèm kiệu hoa đỏ chót bị gió lật tung.

Hai người đang ngồi trong kiệu.

Cha tôi.

Mẹ tôi.

Họ mặc những bộ quần áo sạch sẽ cũ kỹ, sắc mặt tuy trắng bệch, nhưng không có vẻ gì là âm hồn.

Mẹ tôi còn ôm trên tay một tã lót.

Trong tã lót lòi ra một khuôn mặt trẻ sơ sinh.

Khuôn mặt đó.

Là tôi.

Đầu óc tôi ù điếng.

Bà mù túm chặt tay tôi.

“Đồ giả đấy.”

Nhưng tôi vẫn không tự chủ bước tới một bước.

Mẹ tôi trong kiệu từ từ ngẩng đầu.

Đôi mắt bà lấp lánh ánh sáng.

Bà nhìn tôi, khẽ nói.

“Hòe Hòe.”

“Mẹ nhớ ra rồi.”

Cổ họng tôi trào lên một cơn ngọt lịm máu tươi.

Không được khóc.