Ngài nhìn ta, trong ánh mắt không hề có một tia ấm áp nào.
“Như Uyên theo ta từ nhỏ, em ấy không bao giờ làm những chuyện đó, ngài không thể…”
Chưa để ta nói hết, Thác Bạt Dịch đã nghiêm giọng ngắt lời.
“Lời đồn trong phủ bắt nguồn từ nàng ta, bổn vương tự có quyết định.”
“Trượng tễ.”
Ta quỳ sụp xuống, hai đầu gối nện mạnh xuống nền đất, tay túm chặt vạt áo của ngài:
“Cầu xin ngài, em ấy chưa từng làm, xin ngài điều tra rõ ràng rồi hẵng định tội…”
Ngài nhấc tay, gạt tay ta ra khỏi vạt áo.
“Vương phi cứ ở yên đây.”
Ngài đi rồi.
Trong viện vang lên tiếng khóc của Như Uyên, rồi lập tức bị tiếng gậy đè xuống. Ta quỳ trên mặt đất, không nhúc nhích.
Ta nghe thấy những âm thanh đó. Tiếng gậy gỗ nện xuống bình bịch, Như Uyên cố kìm tiếng khóc nhưng không giấu nổi tiếng rên rỉ đau đớn.
Mãi đến khi có người đến báo, nói rằng Như Uyên đã ngất lịm đi, nhưng vẫn còn thoi thóp, muốn gặp Vương phi một lần cuối.
Ta đứng dậy, bước qua đó.
Em ấy nằm dưới mái hiên, hơi thở thoi thóp. Thấy ta bước đến, em ấy hé mí mắt, hốc mắt lập tức đỏ hoe.
“Vương phi…”
Ta ngồi sụp xuống, nắm lấy bàn tay em.
“Người… sau này… phải sống thật tốt…” Giọng em rất khẽ, đứt quãng. “Đừng… vì Vương gia… mà đau lòng nữa. Nô tỳ… chỉ mong người từ nay về sau… được như ý…”
Ta cúi đầu, nước mắt lã chã rơi xuống, đập vào mu bàn tay em.
Như Uyên ra đi vào lúc chạng vạng. Ta ngồi bên cạnh em, đợi đến khi em hoàn toàn tắt thở mới từ từ đứng lên.
Ta chợt nhớ lại mùa đông năm đầu tiên gả vào Vương phủ. Mùa đông ở Đại Nghiệp lạnh thấu xương, viện sâu Vương phủ, chẳng một ai ghé tới. Ta đêm đêm khó ngủ, nằm trên giường nhìn chằm chằm lên đỉnh trướng, không biết mình gả vào đây để làm gì.
Là Như Uyên ôm lò sưởi ngồi bên mép giường, trò chuyện cùng ta, từng câu từng chữ nhẹ nhàng như dỗ dành một đứa trẻ: “Vương phi đừng sợ, có nô tỳ ở đây rồi.”
Sau này ta đổ bệnh, sốt cao không lùi, li bì suốt ba ngày. Vương phủ không ai đến hỏi han.
Là Như Uyên quỳ gối giữa trời tuyết, đầu gối tứa máu, ép Thái y phải đến chẩn bệnh. Em khóc lóc cầu xin người ta, đôi gối tê cóng đến độ mang tật, để lại vết thương cũ, từ đó cứ mỗi khi trời trở mây là lại đau nhức.
Nhưng em chưa bao giờ nhắc đến chuyện này với ta. Mãi sau này nghe tỳ nữ khác lỡ miệng nói ra, ta mới biết.
Hai mươi năm. Em ấy đã theo ta hai mươi năm.
Người duy nhất thật lòng đối xử tốt với ta trong Vương phủ này, cứ thế mà đi mất.
Vì một cái tội danh vu vơ.
Vì ngài chỉ nghe từ một phía, vì một lời dèm pha của Hạ Ly, vì ngài thậm chí lười chẳng buồn điều tra.
Ngày hôm sau, ta ôm tờ thư hòa ly đó, bước tới thư phòng.
Không có thông báo, không có bái thiếp. Từ hôm nay, những quy củ đó không cần phải giữ nữa.
Thư phòng đèn đuốc sáng trưng, Thác Bạt Dịch ngồi sau án thư, tay cầm bút, đầu không thèm ngẩng lên:
“Có việc gì mai đệ thiếp.”
Ta không nói một lời.
Đặt tờ thư hòa ly lên bàn làm việc của ngài, lùi lại một bước, đứng thẳng.
Ngài cúi xuống nhìn, ngòi bút trên tay khựng lại.
“Thế này là có ý gì?”
“Hòa ly.” Ta đáp: “Ta muốn hòa ly với Vương gia.”
Ngài cầm tờ giấy lên, quét mắt qua một lượt, rồi tiện tay ném sang một bên.
“Cố Thanh Uyển.” Giọng ngài trầm xuống. “Chỉ vì mạng của một tỳ nữ, mà nàng muốn hòa ly với bổn vương? Nàng từ khi nào trở nên chuyện bé xé ra to như vậy?”
Chuyện bé xé ra to.
Ta thầm nhắc lại bốn chữ này trong lòng.
Cái đêm mùa đông Như Uyên quỳ giữa trời tuyết đến ứa máu gối để xin Thái y đến khám bệnh, ngài đang làm gì?
Cái buổi chạng vạng Như Uyên chết dưới mái hiên, bàn tay lạnh toát, ngài ở đâu?
Ngài không biết. Ngài chưa bao giờ biết.
Ta không trả lời, chỉ lẳng lặng nhìn ngài, đợi ngài nói xong.
“Bổn vương chính vụ bận rộn, không có thời gian bầu bạn, không phải là không muốn, mà thực sự là quốc gia đại sự đặt lên hàng đầu, nhi nữ tình trường phải xếp sau. Nàng thân là Vương phi, lẽ ra phải hiểu chuyện.”
“Còn về Hạ Ly.” Ngài ngập ngừng, giọng điệu lại bình tĩnh hơn. “Nàng ấy hỗ trợ chính vụ, không thể thiếu được, sớm tối chung đụng cũng chỉ vì công việc đòi hỏi. Nàng tầm nhìn thiển cận, ghen tuông vô cớ, mới gây ra trò cười như ngày hôm nay.”
Tầm nhìn thiển cận… Ghen tuông vô cớ…
Chương 4
Ta nhớ lại hồi mới vào phủ, đã từng tự tay thêu cho ngài một chiếc áo gấm lót hộ tâm. Ngày hôm đó ta đứng ngoài thư phòng suốt một đêm, đến hừng sáng mới biết ngài và Hạ Ly đã ở trong đó bàn bạc chính sự thâu đêm.
Ta nhớ tới ba ngàn tờ bái thiếp bị gạt bỏ.
Đó gọi là ghen tuông vô cớ.
Ta chợt nhận ra, chẳng còn gì để nói nữa.
Thấy ta im lặng, nét mặt ngài giãn ra đôi chút, cất lời như ban phát ân huệ:
“Nếu nàng thực sự bất mãn vì nửa canh giờ đó, bổn vương đặc cách, từ nay mỗi ngày sẽ dành cho nàng một canh giờ, thế nào?”
Một canh giờ.
Ngài nói nghe nhẹ bẫng làm sao. Cứ như thể thêm nửa canh giờ là có thể đánh đổi được năm năm tuổi xuân. Có thể đổi lại mạng sống của Như Uyên.
Ta ngước mắt lên, nhìn ngài. Khuôn mặt này ta đã nhìn suốt năm năm, giờ đây nhìn lại, chỉ thấy xa lạ đến thế.

