Cha ta là một đạo sĩ giả, lừa gạt cả đời.

Lần gieo quẻ cuối cùng, ông tự bói ra ngày chết của chính mình.

Ông bảo: “Con gái, quẻ của cha xưa nay không chuẩn, lần này có lẽ cũng không chuẩn đâu.”

Thế rồi đúng ngày hôm đó, ông qua đời.

Trước khi chết, ông nhét vào tay ta một cuốn sách tướng số cũ nát, bảo rằng bên trong có kẹp một món đồ thật.

Ta lật đi lật lại ba lần, chẳng tìm thấy gì cả.

Mãi sau này mới phát hiện ra, bìa cuốn sách được làm thành hai lớp.

Bên trong là một tờ khế ước đất.

Cái tên viết trên đó không phải là tên cha ta.

Mà là tên của Thái phó đương triều.

Ta cầm tờ khế ước tìm đến phủ Thái phó để đòi một lời giải thích.

Tên gác cổng nhìn lướt qua tờ khế đất, rồi lại nhìn ta.

Hắn chạy vào trong thông báo chừng nửa nén nhang.

Lúc đi ra, người tới không phải là quản sự, mà là chính vị Thái phó kia.

Ông ấy nhìn ta chằm chằm, nhìn rất lâu.

Sau đó buông một câu mà ta nghe không hiểu: “Ngươi lớn lên trông thật giống mẹ ngươi.”

Mẹ ta đã chết đúng vào ngày ta chào đời.

Cha ta nói bà bị sinh khó.

1

Thái phó mang họ Bùi, tên là Bùi Nghiên Thu.

Ông là trọng thần qua ba đời vua, mang thân phận Đế sư tôn quý, học trò khắp thiên hạ.

Thế nhưng lúc đứng trước mặt ta, ông ấy chẳng giống một Thái phó chút nào.

Mà lại giống một lão già đang bị người ta kề dao vào cổ hơn.

“Ngươi… tên là gì?”

“Liễu Thanh Bình.”

“Họ Liễu?” Yết hầu của ông ấy lăn nhẹ.

“Cha ta họ Liễu.” Ta đưa tờ khế đất về phía trước một chút, “Ông cụ, thứ này là của ngài phải không? Sao nó lại nằm trong sách tướng số của cha ta?”

Bùi Nghiên Thu không nhận lấy tờ khế đất.

Ánh mắt ông rơi xuống mặt dây chuyền kiếm gỗ đào bên hông ta, đó là thứ cha ta lấy cán dao phay trong bếp vót thành, thô ráp vô cùng, nhưng ta đã đeo nó mười mấy năm rồi.

“Thanh kiếm nhỏ… này.”

“Cha ta làm đấy, dùng để trừ tà.”

“Tay nghề của cha ngươi rất tốt.”

Ta bật cười: “Tài giỏi nhất của cha ta là đi lừa bịp người khác, chứ không phải làm mấy món đồ thủ công này.”

Ông ấy không cười.

Đưa tay ra hiệu cho tên quản sự phía sau lui ra ngoài bức bình phong.

Cả lối đi dài chỉ còn lại ta và ông ấy.

Gió đầu hè thổi qua làm tấm rèm trúc ngoài hiên kêu xào xạc.

Giọng Bùi Nghiên Thu rất khẽ: “Mẹ ngươi tên là gì?”

“Không biết.”

Ông ấy sững người.

“Cha ta chưa bao giờ nhắc đến tên mẹ ta. Chỉ nói lúc sinh ta bà bị sinh khó mà mất, đến một bức chân dung cũng không để lại.”

Lời này là sự thật.

Mỗi lần cha uống say, cũng chỉ ôm khư khư cuốn sách tướng số đó mà lầm bầm: “Nếu như nàng ấy còn sống, thì tốt biết mấy.”

Sáng hôm sau tỉnh rượu, ông lại chẳng nhớ gì cả, lại trở về bộ dạng cợt nhả mồm mép của một lão già lừa đảo.

Bùi Nghiên Thu nhắm nghiền mắt, giống như đang cố nhịn điều gì đó.

Sau đó, ông làm một hành động khiến ta bất ngờ.

Ông khom người vái ta một cái, không quá sâu, nhưng đối với một Thái phó mà nói, đã là trái với lễ tiết rồi.

“Chuyện khế ước đất này, một hai câu không thể nói rõ được.”

“Nếu ngươi không vội, hãy ở lại trong phủ vài ngày, để lão phu từ từ kể cho ngươi nghe.”

Vốn dĩ ta chỉ định đòi một lời giải thích rồi đi.

Khế ước đất viết rõ đó là một tòa trạch viện ba gian ở phường An Lạc khu Thành Đông, ta – con gái của một đạo sĩ giang hồ – không dùng tới.

Nếu là tài sản của Thái phó phủ thì trả lại là xong, ta chỉ muốn làm rõ tại sao nó lại nằm trong sách tướng số của cha ta.

Nhưng Bùi Nghiên Thu lại nói “Ngươi lớn lên trông thật giống mẹ ngươi”.

Ông ấy quen biết mẹ ta.

Một vị Thái phó, lại quen biết thê tử của một tên đạo sĩ lang bạt.

Chuyện này vốn dĩ đã có gì đó không đúng.

Thế là ta gật đầu.

“Vậy thì làm phiền rồi. Nhưng cứ nói thẳng trước nhé, ta là đạo sĩ, không ăn chay đâu.”

Khóe miệng Bùi Nghiên Thu giật giật, giống như muốn cười nhưng lại nhịn xuống.

“Nhà bếp sẽ chuẩn bị món mặn.”

2

Quản sự sắp xếp cho ta ở tại Trúc Uyển góc tây bắc của phủ.

Viện tử không lớn, nhưng được dọn dẹp cực kỳ sạch sẽ. Ngoài cửa sổ là một rừng trúc, trên ngọn trúc có hai con chim cu gáy đang đậu.

Ta ném hành trang lên giường, lục lọi lại những thứ cha để lại cho ta.

Một cuốn sách tướng số. Tờ khế đất trong lớp bìa kẹp đã được ta lấy ra, giữa các trang sách còn kẹp vài tờ bùa, đều là loại bùa vạn năng “Thái Thượng Lão Quân cấp cấp như luật lệnh” mà cha hay dùng.

Một nắm tiền đồng. Sáu đồng, xâu bằng dây đỏ, cha hay dùng để gieo quẻ.

Một mặt ngọc bội màu trắng. To cỡ ngón tay út, chạm trổ thô ráp. Đây là thứ duy nhất trong ký ức của ta có liên quan đến mẹ – cha nói là mẹ để lại cho ta. Ta vuốt ve mười mấy năm, góc cạnh đều bị ta vờn cho nhẵn bóng rồi.

Một chiếc bọc vải cũ. Bên trong là số bạc cha dành dụm, tổng cộng mười bảy lạng ba tiền.

Đó chính là toàn bộ gia tài của Liễu bán tiên.

Nói ra cũng nực cười.

Cha ta xưng danh là Liễu bán tiên, rong ruổi khắp xóm làng bói toán suốt hai mươi năm.

Quẻ của ông rốt cuộc có chuẩn không?

Không chuẩn.

Ông xem nhân duyên cho nhà họ Trương, bảo là duyên trời tác hợp. Kết quả con dâu nhà họ Trương bỏ trốn cùng tên đồ tể họ Vương nhà bên cạnh.

Ông xem tài vận cho nhà họ Lý, bảo là ngày kiếm ngàn vàng. Kết quả cửa tiệm nhà họ Lý ba tháng sau lỗ sạch sành sanh.

Ông xem số đào hoa cho quả phụ họ Triệu, bảo sang năm ắt gặp lang quân như ý. Kết quả quả phụ họ Triệu đợi ba năm, lang quân chẳng thấy đâu, lại đợi được một con lợn rừng từ trên núi chạy xuống húc sập tường viện.

Nhưng ông có một bản lĩnh.

Mỗi lần bói sai, ông luôn có thể bịa ra một bộ lý lẽ khiến người ta cảm thấy không phải quẻ bói không chuẩn, mà là do ngươi không làm theo.

“Ta nói duyên trời tác hợp, sao ngươi không ra sức mà hợp đi? Vợ chạy rồi ngươi lại chẳng đi tìm!”

“Ngày kiếm ngàn vàng là nói nếu ngươi mở tiệm trên mỏ vàng. Ngươi mở ở trấn thì sao mà được?”

“Đào hoa thì đến rồi, chỉ là bị lợn rừng húc đi trước thôi mà.”

Dựa vào cái miệng này, cha ta tuy bói không chuẩn, nhưng chưa bao giờ bị ai đánh.

Cùng lắm là bị rượt chửi vài con phố.

Ông chạy cũng nhanh.

Nhưng một người như thế, trước khi chết đột nhiên nói: Con gái, cả đời cha chỉ bói đúng một quẻ duy nhất.

Ta hỏi ông là quẻ nào.

Ông nói: Con.

Ông kể ông bói ra năm nào tháng nào ngày nào đó, đi ngang qua một nơi nào đó, sẽ nhặt được một cô con gái.

Ông thực sự đã đi, và thực sự đã nhặt được ta.

Đó là lần duy nhất trong đời, quẻ của ông ứng nghiệm.

Lúc đó ta còn tưởng ông lại đang nói sảng.

Bây giờ ngồi trong Trúc Uyển của Thái phó phủ, vuốt ve mặt ngọc bội mẹ để lại.

Ta chợt nghĩ…

Cha nói “nhặt được”.

Chứ không phải “sinh ra”.

Là nhặt được.

3

Sáng hôm sau, quản sự đến mời ta dùng bữa sáng.

Theo quy củ của phủ Thái phó, mỗi phòng mỗi viện dùng bữa riêng, gia yến đàng hoàng thì phải đến lễ tết mới bày.

Nhưng Bùi Nghiên Thu lại sai người dẫn ta đến sảnh phụ của chính đường, ông ấy cũng ở đó.

Trên bàn có bốn món ăn một món canh, có mặn có chay.

Ta chú ý đến một món trong số đó: cá xắt lát xào giấm, dùng giấm trắng chứ không phải giấm đen, thịt cá thái mỏng như cánh ve, bên dưới lót một lớp gừng thái chỉ.

Món này ta biết làm.

Cha dạy.

Ông bảo mẹ ta thích ăn món này nhất.

“Ông cụ, đầu bếp phủ ngài tay nghề khá đấy.”

“Hắn làm trong phủ ba mươi mấy năm rồi.” Bùi Nghiên Thu bưng bát, ăn rất chậm.

“Món cá xắt lát xào giấm này, là ai gọi vậy?”

“Là lão phu căn dặn.”

“Sao ngài biết ta thích ăn món này?”

Bùi Nghiên Thu đặt đũa xuống.

“Lão phu không biết ngươi thích ăn gì. Món này… là do một người ngày trước trong phủ thường hay làm.”

“Ai?”

“Một nha hoàn. Nàng ấy thái cá còn đẹp hơn cả đầu bếp, ban nãy lúc ăn ngươi nhíu mày một cái, chắc là cảm thấy đao pháp kém một chút.”

Ta đúng là có nhíu mày.

Bởi vì lúc cha dạy ta thái cá có dặn phải lia dao bám sát xương cá, thịt thái ra mới mỏng mà không bị nát. Đĩa cá này có hai ba lát thái dày, đứt mất thớ thịt rồi.

“Nha hoàn đó, sau này ra sao rồi?”

Bùi Nghiên Thu im lặng.

Một lát sau mới nói một câu: “Đi rồi.”

Hai chữ “đi rồi” này, ông ấy ngậm trong miệng cứ như ngậm một cục sắt.

Ta không gặng hỏi thêm.

Bởi vì trên bàn ăn có người ngoài – ngoài cửa sảnh phụ có một phụ nhân trung niên đang đứng, mặc chiếc áo lụa đối khâm màu xanh sẫm, trên đầu cắm một cây trâm phượng bằng vàng ròng.

Bà ta không ngồi xuống ăn, mà đứng ở cửa nhìn ta.

Ánh mắt lướt từ mặt ta xuống y phục của ta, rồi lại lướt tới mặt dây chuyền kiếm gỗ đào bên hông.

Quản sự nói nhỏ: “Đó là Đại phu nhân.”

Thái phó phu nhân, chính thất của Bùi Nghiên Thu.

Ta gật đầu chào bà ta.

Bà ta không gật lại.

Quay lưng bỏ đi.

4

Ăn xong, Bùi Nghiên Thu không hề đả động đến chuyện khế ước đất.

Ông chỉ nói: “Trong phủ dạo này không được yên ổn, hạ nhân ở mấy viện đều nói ban đêm nghe thấy tiếng động lạ, lão phu nhân cũng thường hay gặp ác mộng. Ngươi đã là người trong Đạo môn, nếu tiện thì…”

Ta hiểu rồi.

Ông ấy không định trực tiếp nói cho ta biết sự thật, mà muốn mượn cớ “làm phép” để giữ ta lại trong phủ.

Cũng được.

Liễu Thanh Bình ta bôn ba nam bắc mười mấy năm, từ năm bảy tuổi đã theo cha ra sạp lừa – à không, ra sạp xem bói.

Cái gì mà phong thủy âm trạch dương trạch, bát tự hợp hôn, xua quỷ trấn tà, toàn là ngón nghề tủ của ta cả.

Tuy cũng không chuẩn giống y hệt cha ta, nhưng bày vẽ phô trương thì dư sức.

Đầu tiên ta đi vòng quanh hậu hoa viên một vòng.

Thái phó phủ xây không quá xa hoa, nhưng nơi nào cũng toát lên vẻ cầu kỳ. Gỗ chạm trổ trên hành lang là tay nghề thợ Tô Châu, trong bồn hoa trồng mẫu đơn Lạc Dương, đá hòn non bộ là vận chuyển từ Thái Hồ tới.

Nhưng góc đông nam của hậu hoa viên lại có một cái giếng cạn.

Miệng giếng bị phong kín bằng phiến đá, trên phiến đá còn đè thêm một cục sắt non.

Thế này không đúng.

Lấp giếng thì dùng phiến đá là đủ rồi, đè thêm một cục sắt non, chứng tỏ thứ bị phong ấn không phải là cái giếng.

Mà là sợ có thứ gì đó từ bên trong chui ra.

Ta không đụng vào phiến đá đó, nhưng ngồi xổm xuống ngửi thử.

Không có mùi lạ. Chỉ là trong kẽ hở phiến đá có mọc một loại cỏ, lá hẹp dài, nở những bông hoa nhỏ li ti màu trắng.

Ta nhận ra loại cỏ này.

Nó gọi là cỏ Vọng Quy.

Thường chỉ mọc bên cạnh mồ mả.

5

Buổi chiều, ta chính thức bắt đầu “làm phép”.

Làm từ viện của hạ nhân trước.

Thái phó phủ có bốn viện. Chính viện là chỗ Bùi Nghiên Thu và phu nhân ở, Đông viện là nơi ở cũ của Bùi Hoài Cẩn – trưởng tử đã khuất của Thái phó, hiện đang để trống. Tây viện do một người cháu họ xa thuộc bàng chi nhà họ Bùi tên là Bùi Nguyên Bạch đang ở, người này làm Biên tu ở Hàn lâm viện, ngoài ba mươi tuổi, vẫn chưa lấy vợ. Nam viện là dãy phòng của hạ nhân và nhà bếp.

Ta đến Nam viện trước.

Đốt một xấp bùa, lầm rầm niệm kinh nửa nén nhang.

Thực ra câu niệm là: Thái Thượng Lão Quân xin cho con mượn đôi mắt tuệ nhãn – ta chẳng nhìn ra cái viện này có vấn đề gì cả.

Thu hoạch duy nhất là quen được một vị ma ma già.

Bà ấy họ Chu, làm sai vặt trong Thái phó phủ đã bốn mươi năm, từ một a hoàn nhóm lửa nhà bếp làm lên đến ma ma quản lý việc giặt giũ nội viện.

Chu ma ma hơn sáu mươi tuổi rồi, tai thính mắt tinh, lưng cũng không gù, nhìn là biết một người tinh thần sung mãn.

Ta xem cho bà ấy một quẻ.