Cán bộ kỹ thuật đến, bóc lớp vỏ cây ra xem rồi bảo: “Cây dương vỏ mỏng, mùa hè nhiệt độ cao dễ bị bỏng vỏ. Ông trồng quá dày đặc, không thông gió, cộng thêm hạn hán, có quá nhiều nguyên nhân. Hơi nóng từ phòng sấy chỉ là làm tăng tốc quá trình bỏng vỏ thôi, về mặt kỹ thuật không thể kết luận đó là nguyên nhân duy nhất.”
“Thế cây nhà tôi chết uổng à?”
“Trồng trọt nông nghiệp thì tự chịu rủi ro thôi.”
Chu Đức Thắng đứng trước hàng cây khô chết, mặt mày còn khó coi hơn cả cái vỏ cây xù xì kia.
Dân làng xúm quanh xem náo nhiệt.
“Chu Đức Thắng trồng cây định chơi xỏ người ta, ai ngờ tự hại mình.”
“Đáng đời, ai bảo trồng sát rạt thế làm gì.”
Chu Đức Thắng quay phắt lại, gầm lên với đám đông: “Nhìn cái gì mà nhìn!”
Đám đông tản đi.
Chỉ còn mình ông ta đứng trước mấy cái cây khô, châm một điếu thuốc, rít được hai hơi lại đập mạnh xuống đất.
Bố tôi đứng ở cửa nhà lồng, đưa mắt nhìn cho đến khi bóng Chu Đức Thắng khuất hẳn.
Tôi bước lại gần. Bố tôi đột nhiên lẩm bẩm một câu: “Hai mươi mấy năm rồi.”
Ông chống gậy quay người vào nhà. Tiếng gậy gõ xuống nền đất, cộc, cộc.
Tôi đứng đó, nhìn bóng lưng còng xuống của ông, nhớ lại những lời Chu Đức Thắng nói trong nhà kính hôm trước.
“Dương Hữu Tài ngồi xổm bên bờ ao, vớt một con cá lên lại khóc một tiếng.”
“Tao đứng trên sườn đồi bên kia mà đếm.”
Máy móc trong phòng sấy vẫn đang ầm ầm hoạt động.
Gió nóng từ cửa xả nhiệt phả ra, thổi qua đám cây dương chết khô, thổi về phía xa xa nơi cái ao cá năm xưa đã bị lấp phẳng.
6
Mùa thu năm đó, Chu Đức Thắng cho người đào tận gốc hai hàng cây dương đã chết.
Đào ròng rã suốt ba ngày.
Tiếng cưa máy vang lên từ sáng đến tối, người trong làng đi ngang qua ai cũng phải ngó vào xem.
Chu Đức Thắng cởi trần, quăng từng khúc cây đã cưa đứt lên xe máy kéo, ném ầm ầm đến mức thùng xe kêu loảng xoảng.
Rễ cây cũng bị bới lên từ dưới đất, vứt thành đống ở đầu bờ, trông như một đống xương khô.
Tôi đứng trước cửa nhà lồng nhìn sang.
Ông ta ném xong khúc cây cuối cùng, đứng thẳng lưng lên, nhìn thấy tôi qua bờ ruộng.
“Dương Siêu Đông.” Ông ta gọi một tiếng.
Tôi không đáp.
Ông ta vỗ vỗ bùn đất trên tay, bước tới, đứng ngay trên đường ranh giới hai nhà. Mảnh đất đó bị ông ta đào xới nham nhở, như vừa bị cày nát.
“Cây không còn nữa.” Ông ta nói.
“Thấy rồi.”
“Nhưng đất thì vẫn còn đây.” Ông ta lấy mũi giày gõ gõ xuống nền đất dưới chân. “Mày nhớ kỹ câu này.”
Tôi không đáp lời.
Ông ta quay người bỏ đi.
Đi được vài bước lại ngoái đầu lại: “Dương Siêu Đông, cái phòng sấy nhà mày còn nướng chết được cái gì nữa? Mày nói tao nghe xem. Tao trồng cái gì mày nướng được thì nướng tao xem.”
Tôi nói: “Chú Chu, phòng sấy dùng để sấy nấm.”
“Được.” Ông ta châm một điếu thuốc. “Mày sấy nấm của mày. Xem ai bản lĩnh hơn ai.”
Ông ta ngậm điếu thuốc, nghênh ngang bỏ đi.
Chưa đầy một tháng sau, chỗ ranh giới lại bắt đầu thi công.
Lần này không trồng cây nữa.
Mà là dựng nhà kính.
Khung thép ống, màng nilon bao quanh, toàn là vật liệu mới cáu.
Bảy tám người hì hục làm suốt hơn mười ngày, bảy cái nhà kính xếp thành một hàng mọc lên, dưới ánh mặt trời phản chiếu trắng lóa cả mắt.
Lúc tôi ra xem, Chu Đức Thắng đang ngồi xổm trước cửa nhà kính ăn cơm hộp.
Thấy tôi, ông ta đặt hộp cơm xuống đất, đứng dậy.
“Đến đúng lúc lắm. Vào trong mà xem.”
Ông ta vén tấm rèm nilon ở cửa nhà kính lên, hất cằm ra hiệu cho tôi vào.
Bên trong hầm hập hơi nóng, mùi đất ngai ngái quyện với mùi phân bón nồng nặc.
Mầm cây hương thuẩn đã được trồng xuống, cao đến đầu gối, xanh mướt, xếp thành từng hàng thẳng tắp.

