Cửa “rầm” một tiếng bị đẩy bật ra, nha hoàn Thúy Nhi xông vào: “Tiểu thư! Trong cung có người tới rồi! Nói muốn gả người cho cô là Kinh An Vương!”

Ta mạnh mẽ hất chăn ra, tóc tai rối bù như tổ quạ.

Ngày xuất giá đến, trên mặt Kinh An Vương viết rõ bốn chữ “công sự công bàn”.

“Ngươi và ta, đôi bên không can thiệp.”

Giọng hắn lạnh nhạt, như đang đọc một phong thư công văn không mấy quan trọng.

Ta khóc rất động lòng người, chủ yếu là vì sợ.

Dẫu sao trong đầu ta chỉ quanh quẩn một câu “hắn không phải con ruột của tiên hoàng”.

Sau đó, ta ngoan ngoãn co mình trong viện riêng, mỗi ngày ăn ăn uống uống, lập chí làm một con cá mặn đủ tiêu chuẩn.

Ban ngày ngủ quá nhiều, ban đêm lăn qua lộn lại lại không ngủ được.

Nghe nha hoàn nói trong phủ có một đài ngắm trăng, là nơi nhìn trăng đẹp nhất, ta khoác thêm một chiếc ngoại bào, xách theo một đĩa bánh quế hoa, lần mò trong bóng tối tìm tới đó.

Đài ngắm trăng thì chưa thấy, lại tìm được một cánh cửa sổ khép hờ.

Bên trong có đèn, có người đang nói chuyện.

“…Vương gia, bên Ngự Sử Đài vừa dâng sổ, nói ngài ở ngoại ô kinh thành bí mật nuôi ba nghìn tư binh, mưu đồ bất chính.”

Ta cứng đờ tại chỗ, ôm chặt đĩa bánh quế hoa trong ngực, run bần bật như cái sàng.

Giọng Kinh An Vương bên trong không nhanh không chậm: “Chứng cứ đâu?”

“Tạm thời chưa có chứng cứ thực sự, nhưng lời đồn đã truyền đến ngự tiền rồi. Bệ hạ tuy chưa tỏ thái độ, chỉ sợ để lâu ngày…”

Một con mèo hoang không biết từ đâu phóng vọt ra, kêu “meo” một tiếng rồi lướt qua bên chân ta.

Ta cắn chặt răng không dám phát ra tiếng nào, nhưng đĩa bánh quế hoa vẫn rơi đầy xuống đất.

Trong phòng lập tức im phăng phắc.

Cửa sổ bị người từ bên trong đẩy mở, gương mặt Kinh An Vương hiện ra dưới ánh trăng.

Hắn cúi đầu nhìn ta đang ngồi xổm dưới chân tường cửa sổ, trên người dính đầy vụn bánh quế hoa.

Ta nở một nụ cười còn khó coi hơn cả khóc, “Ta tới ngắm trăng…”

Hắn không nói gì, chỉ đóng cửa sổ lại.

Ta chẳng còn tâm trí nào quan tâm đĩa bánh quế hoa đã vỡ, chỉ vội vã xám xịt chạy về viện.

Một phen kinh hãi ấy, bệnh mất ngủ của ta càng thêm nặng.

Trời còn chưa sáng đã tỉnh, tỉnh rồi cũng chẳng dám ra cửa, phải đợi bên ngoài người qua lại đông hơn, ta mới dám ra ngoài đi dạo vài vòng.

Nghe nói Vương gia đã ra ngoài, ta mới khẽ thở phào.

Khi trời mờ mờ sáng, ta đứng dậy đi dạo cho tiêu cơm.

Trong phủ có một khóm trúc rất đẹp, ta thanh thanh tĩnh tĩnh hít một hơi sương sớm.

Rồi không kịp đề phòng, ta đâm sầm vào Kinh An Vương và mưu sĩ của hắn.

Bọn họ đang ngồi trong lầu trúc, bốn bề trống trải, đến chỗ che chắn cũng không có.

Ta còn chưa tới nơi, tiếng nói đã bay tới trước rồi—

“…Binh bộ thị lang Vương đại nhân, gần đây qua lại rất thân thiết với dư đảng phủ An Quốc công.”

“Ừm.”

“Hắn đã dâng mật sớ trước mặt bệ hạ, nói Vương gia ngài ngầm liên lạc với các tướng lĩnh nơi biên quan, có… dã tâm mưu phản.”

Bước chân ta khựng lại.

Trong rừng trúc đến chỗ trốn còn không có, ta xoay người bỏ chạy luôn, kết quả giẫm phải một cành trúc khô—

“Rắc.”

Ba người trong lầu trúc đồng loạt quay đầu nhìn ta.

Ta cứng đờ tại chỗ, trong tay còn nắm một chiếc lá trúc vừa mới hái, “Trúc này… mọc đẹp thật.”

Ánh mắt Kinh An Vương như lưỡi đao, lướt qua mặt ta.

“Ta đi ngay!” Ta xoay người chạy biến, suýt nữa bị trúc vấp cho vướng váy.

Ta tự nhốt mình nửa tháng.

Thiếu ngủ vốn đã khiến tinh thần ta không tốt, trong phủ lại còn có một con mèo hoang, kêu liên tiếp mấy ngày liền.

Ta thật sự không chịu nổi nữa, bèn bảo nha hoàn chuẩn bị ít cá khô, định dụ nó ra cho ăn no rồi đuổi đi.

Con mèo chui vào tầng kẹp của tòa phế đình trong phủ.