Ta quệt lớp bụi trên mặt: “Không phải cô hồn, là phu quân ta. Ta muốn thuê một gian, làm chút việc vá may.”
Lưu Nhất Thủ cười, con mắt chột toát ra thứ ánh sáng dâm tà: “Vá may? Vá áo hay vá… quần? Nếu vá quần, chỗ gia đây đang thiếu một kẻ sưởi giường đấy.”
Mấy tên du côn quanh đó cười ầm lên.
Ta không giận, rút từ gầm xe ván ra một chiếc kéo — kéo dùng để cắt áo thọ cho người chết, mài sắc như dao.
Ta “chát” một tiếng nện kéo lên bàn: “Khâu thi thể. Dẫu nát thành mấy khúc, ta cũng khâu hắn lại được, cho hắn thể diện mà gặp Diêm Vương.”
Tiếng cười lập tức tắt.
Lưu Nhất Thủ đặt móng giò xuống, nhìn ta từ trên xuống dưới: “Khẩu khí không nhỏ. Được thôi, vừa hay hôm nay đưa tới một vị khó hầu hạ. Nếu cô hầu hạ cho êm, ta cho cô thuê cái ‘hung trạch’ phía tây nghĩa trang này. Còn nếu hầu hạ không xong…”
Hắn “hề hề” cười một tiếng, “thì cô tự khâu mình vào quan tài, chôn theo con quỷ chết kia đi.”
Mấy tên du côn khiêng ra một cỗ thi thể.
Ta liếc một cái, mày cũng chẳng buồn nhíu.
Là một kẻ xấu số bị ngựa giẫm nát đầu; đầu đã thành thịt bầy nhầy, ngũ quan không còn phân biệt được.
Thân nhân ở bên cạnh khóc đến trời đất tối sầm, nhất định đòi nhìn người chết lần cuối.
Việc này, ngỗ tác thường quả thật không dám nhận.
Nhưng ta làm được.
Ta bảo Lưu Nhất Thủ chuẩn bị hai cân bột mì, một tấm da heo vừa lột, cùng phấn son.
Ta rửa sạch tay, ngay trước mặt mọi người, bắt đầu nắn xương.
Bột nhào trộn với loại keo đặc biệt, nặn thành dáng hộp sọ, nhét dưới đám thịt nát để chống lên đường nét.
Da heo ngâm dấm, mềm như da người, phủ lên bột, dùng kim nhỏ khâu dày sít vào chỗ cổ bị đứt.
Cuối cùng là trang điểm.
Trang điểm cho người chết không thể rực, phải trầm.
Dựa theo một bức chân dung thân nhân đưa, ta vẽ mày điểm mắt trên lớp da heo.
Nửa canh giờ sau, ta thu kim.
Thi thể vốn nát bươm mặt mũi, giờ nằm đó yên lành. Dẫu sắc mặt hơi trắng bệch, nhưng quả thật đã là một gương mặt người hoàn chỉnh.
Thân nhân nhào tới khóc đến nước mắt nước mũi tèm lem, nhét vào tay ta một túi bạc, nghìn ơn vạn tạ.
Lưu Nhất Thủ đứng dậy, trong con mắt chột không còn khinh thị, thay vào đó là dè chừng.
“Cũng có chút bản lĩnh.”
Hắn quăng chìa khóa cho ta: “Gian phía tây thuộc về cô. Nhưng nói trước cho rõ, gian đó chết ba đời chưởng quầy rồi, ai cũng bảo có ma quấy. Cô là nữ nhân, đè nổi không?”
Ta nhận chìa khóa, cười lạnh một tiếng: “Phu quân ta là Hoắc Vô Cữu. Sống là Tu La, chết là Quỷ Vương. Ma nào dám làm càn trước mặt hắn?”
Ta treo danh hiệu Hoắc Vô Cữu ra ngoài.
Ở Tây Bắc, ba chữ ấy còn hữu dụng hơn cả môn thần.
Tiệm tuy rách, nhưng ít ra cũng có chỗ đặt chân.
Ta để quan tài của Hoắc Vô Cữu ở hậu đường — đó là bảo vật trấn điếm của ta, cũng là bùa hộ mệnh của ta.
Đêm ấy, ta đóng kín cửa sổ, thắp lên một cây nến.
Ta phải lấy quyển sổ sách kia ra.
Dẫu đã khâu vào rồi, nhưng đó chỉ là kế tạm. Thi thể mà mục nát, sổ sách cũng theo đó mà hủy.
Ta dùng kéo rạch mở đường chỉ trên bụng Hoắc Vô Cữu.
Tiếng da thịt bị kéo giật ấy, trong đêm tĩnh mịch nghe càng chói tai.
Đậu lăn ra, kéo theo một mùi chua thối lên men.
Ta mò mẫm trong đống đậu, đầu ngón tay chạm phải một gói giấy dầu.
Ta lấy gói giấy dầu ra, bóc từng lớp.
Bên trong là một cuốn sổ nhỏ bìa xanh.
Ta lật trang đầu tiên, tay đã bắt đầu run.
Đó không phải một quyển sổ sách hoàn chỉnh.
Mà là nửa quyển.
Chỉ có khoản thu, không có khoản chi.
Chỉ ghi Triệu giám quân nuốt bao nhiêu quân lương, nhưng không ghi hắn bán đống lương thảo ấy cho ai, tiền lại chảy về kinh thành đến tay vị “đại nhân” nào.
Nửa quyển này đủ định tội Triệu giám quân tham ô, nhưng không đủ định hắn tội chết thông địch phản quốc.

