Trên đường về quê dịp xuân vận, đang ngồi trên tàu thì gặp một người giàu có, ông ta phát lì xì cho toàn bộ hành khách trong toa.
Chỉ riêng phong bao của tôi là khác. Trên đó in chữ “Song Hỷ” đỏ chói, nhìn vô cùng bắt mắt.
Tôi biết đây là kết âm hôn. Chỉ tiếc là tôi đã kết từ nhỏ rồi.
Hơn nữa, cái “người” kia lòng dạ hẹp hòi vô cùng, ghét nhất là có ai dám động vào tôi.
1
Cạch đoàng — cạch đoàng —
Con tàu sơn xanh chạy không hề êm ái, tiếng ầm ầm của bánh sắt gần như lấn át cả tiếng nhạc trong tai nghe tôi.
Từ khi lên đại học đến nay, đã bảy tám năm tôi chưa từng về nhà.
Nếu không phải mẹ tôi qua đời, tôi cũng chẳng trở về.
Lần đầu chen chúc dịp xuân vận, tôi hoàn toàn không có kinh nghiệm. Vé máy bay lẫn vé tàu nhanh đều không mua được, chỉ còn vé ghế cứng.
Đi được hơn nửa chặng đường, bây giờ đã chín giờ tối. Tiếng cười đùa, trò chuyện, tiếng ngáy vang lên không dứt.
Để phòng ngừa bất trắc, tôi lấy chứng minh thư từ túi ra, định cất vào balô.
Một đứa trẻ lao tới đâm vào tay tôi, làm thẻ căn cước rơi xuống đất.
“Xin lỗi, xin lỗi, trẻ con còn nhỏ chưa hiểu chuyện.”
Một người đàn ông trung niên bước tới với vẻ mặt áy náy, nhặt thẻ căn cước lên. Nhưng ông ta không trả lại ngay mà cầm trên tay quan sát kỹ, còn nhìn tôi mấy lần như đang đối chiếu.
Thật quá vô lễ.
Tôi cố nén khó chịu, hạ giọng hỏi:
“Có thể trả lại cho tôi được không?”
Trong toa tàu không thông gió, tôi hơi choáng váng vì say tàu nên đành nằm gục xuống nghỉ ngơi.
Sợi dây đỏ trên cổ tay khẽ lóe lên. Tôi mơ hồ cảm nhận được một mùi đàn hương thoảng qua bên cạnh, mọi mùi khó chịu khác đều biến mất.
Trong mùi hương quen thuộc ấy, tôi an tâm chìm vào giấc ngủ. Khi tỉnh lại, tôi nghe thấy tiếng ồn ào.
“Ha ha, không cần khách sáo. Tôi đã phát lì xì từng người rồi, mong mọi người viết cho tôi vài câu chúc phúc.”
Chính là người đàn ông trung niên lúc nãy. Ông ta gật đầu, tươi cười phát phong bao cho từng người trong toa. Không rõ bên trong bao nhiêu tiền, nhưng phong bao nhìn rất dày.
Ông ta giải thích con trai mình mắc bệnh nặng.
Ông ta phát lì xì cho mọi người, bảo mọi người nhận tiền rồi viết vài câu chúc phúc, đặt vào trong phong bao đưa lại cho ông ta.
Ông ta còn cố ý nhấn mạnh phải ghi rõ tên mình, như vậy tích đức mới linh nghiệm.
Lời lẽ chân thành, ánh mắt tràn đầy thành ý.
Đứa trẻ vừa nãy đụng vào tôi ngoan ngoãn đi theo sau, đưa giấy và bút cho những người đã nhận phong bao.
Ban đầu có vài hành khách nghĩ rằng “trên đời không có chuyện bánh từ trên trời rơi xuống”, không muốn nhận. Nhưng nghe nói là để tích đức tích phúc, cuối cùng vẫn nhận tiền và viết vài chữ.
Người đàn ông trung niên đi đến trước mặt tôi, cười hề hề, đưa ra một phong bao đặc biệt dày.
Ông ta nói:
“Lúc nãy xin lỗi nhé, tôi đặc biệt chuẩn bị cho cô một cái lớn hơn, mong cô thứ lỗi.”
Tôi nhìn chữ “Song Hỷ” đỏ chói trên phong bao, rồi liếc nhìn xung quanh.
Chỉ có phong bao của tôi là có chữ đó.
Ông ta tính toán đến mức gần như lộ liễu trước mặt tôi.
Tôi khẽ cong môi, mỉm cười nhìn thẳng vào ông ta.
Có lẽ bị tôi nhìn đến phát hoảng, ông ta thoáng lúng túng, như thể âm mưu đã bị phát hiện.
Thẹn quá hóa giận, ông ta lập tức nhét phong bao vào lòng tôi.
Đứa trẻ phía sau cũng bước sát theo, nhét vào tay tôi một tờ giấy và một cây bút.
Giấy trắng.
Tôi thoáng ngửi thấy trên giấy và bút có mùi giống như giấy vàng mã đã bị đốt.
Đây là kết âm thân.
Tôi quá hiểu chuyện này.
Phong bao đưa cho tôi, tôi nhận tiền — đó chính là sính lễ.
Tôi viết tên mình lên tờ giấy rồi bỏ vào trong — nghĩa là tôi đồng ý, khế ước được lập thành.
Chỉ tiếc là…
Ông ta không biết tôi đã kết âm thân từ lâu rồi.
Giờ chắc “người kia” đang tức điên lên. Sợi dây đỏ trên tay tôi nóng đến mức khiến cả bàn tay cũng nóng rực.
2
Sợi dây đỏ chớp tắt, tuy không nhìn thấy nhưng tôi đoán được người kia đang giận dữ thế nào.
Thấy người đàn ông trung niên vẫn luôn nhìn chằm chằm tôi, tôi cười hỏi một câu: “Ông hẳn không thiếu tiền, sao lại đi tàu vậy?”
“Tàu à? Tàu tốt mà, đông người, náo nhiệt.” ông ta phụ họa.
Nghe câu trả lời lấp liếm rõ ràng ấy, cũng chẳng ngoài dự đoán của tôi.
Ông ta ăn mặc sang trọng, vest chỉnh tề, cầm cặp công văn, còn đeo chiếc đồng hồ hơn trăm nghìn tệ.
Nhưng vẫn nhìn ra được ông ta dường như không quen với thân phận này.
Chỉ trong vài phút trò chuyện ngắn ngủi, ông ta đã liếc đồng hồ rất nhiều lần, rất nhanh, như không phải xem giờ mà là để ý xem đồng hồ còn không.
Giả làm người giàu đi tàu, tất nhiên là có mục đích.
Thấy ông ta cứ nhìn tôi, dường như nhất định phải tận mắt thấy tôi viết giấy, tôi cũng lười dây dưa, viết bừa một câu chúc, rồi ký tên.
Ôn Dĩ Văn.
Dĩ nhiên không phải tên tôi.
Hy vọng đối tượng kết âm thân kia nhìn thấy cái tên này sẽ không quá kinh ngạc.
Ôn Dĩ Văn, bậc đại gia huyền học, chưởng môn đời trước của nhà họ Ôn, dù ba mươi tuổi đã qua đời, vẫn bảo hộ nhà họ Ôn bình an năm mươi năm, cho đến tận bây giờ.
Nhà họ Ôn vững vàng ngồi ở vị trí số một giới huyền học, chính là nhờ ông.
Ông cũng là đối tượng âm hôn của tôi.
Có lẽ thấy tôi viết tên ông, sợi dây đỏ mới ngừng nóng, không còn giận dỗi nữa.
Tôi mang ý dỗ dành sờ sờ sợi dây đỏ, đưa tờ giấy cho người đàn ông trung niên.
Ông ta cười toét miệng, khóe mắt nhăn lại vài nếp.
Nhớ lại hành động ông ta xem chứng minh thư của tôi, chắc lúc đó ông đã xác định bát tự sinh thần của tôi.
Bát tự của tôi đặc biệt, từ nhỏ đã có thể nhìn thấy những thứ không sạch sẽ, cũng rất dễ dây vào những thứ dơ bẩn.
Dĩ nhiên, cũng rất thích hợp để kết âm thân.
Lúc trước người nhà họ Ôn không biết từ đâu có được bát tự của tôi, tìm đến cửa, hứa cho bố mẹ tôi một triệu, để tôi kết thân với gia chủ đã qua đời của họ.
Nhà họ Ôn làm việc quang minh hơn, nói rõ lợi hại.
Bố mẹ tôi lại như không thấy cả trang giấy kín đặc những bất lợi, chỉ nhìn chằm chằm vào một triệu kia.
Một đứa con gái đổi một triệu, quá hời.
Huống hồ tôi còn có hai chị gái.
Ở nông thôn, con gái đâu có quý.
Vì thế, khi mới mười tuổi, tôi đã mơ hồ kết âm thân.
Sau này tôi mới biết, trước đó Ôn Dĩ Văn hoàn toàn không hay chuyện này.
Ông biết được thì nổi giận, xử phạt tất cả những người liên quan theo gia quy.
Đáng tiếc hôn ước đã thành, không ai thay đổi được.
Nhưng cũng có chỗ tốt, tôi có một người thầy huyền học kề bên, cũng không còn phải sợ bị những thứ dơ bẩn quấn lấy.
Thế nhưng tôi vẫn hận bố mẹ mình.
Cho dù cuộc hôn sự này mang đến cho tôi là phúc chứ không phải họa, cũng không thể che lấp hành vi “bán con gái” trần trụi của họ.
3
Khoảng hơn mười một giờ đêm, trong toa tàu đã tắt đèn từ lâu.
Tôi cũng có chút buồn ngủ, mơ màng rồi tiếp tục thiếp đi.
Đột nhiên cổ tay lạnh buốt, khiến tôi rùng mình một cái rồi mới lơ mơ tỉnh lại.
Là anh đang nhắc tôi.
Khi mở mắt lần nữa, toa tàu đã hoàn toàn đổi khác.
Những hàng ghế ban đầu biến mất, hai bên cửa sổ đều dán những chữ “Hỷ” to tướng.
Ánh đỏ u u tỏa ra từ những chiếc đèn lồng treo trên đầu.
Phía trước cùng của toa đặt một chiếc bàn thờ, trên đó có một bài vị.
Ở xa quá nên tôi không nhìn rõ.
Trước bàn cũng dán chữ “Hỷ”, treo quả cầu hoa đỏ rực, còn có một tấm ảnh đen trắng.
Người trong ảnh nở nụ cười quỷ dị.
Nhiệt độ xung quanh dường như hạ xuống mấy độ, lạnh đến mức tay chân tôi buốt giá.
Một luồng ấm áp truyền tới từ phía sau, như thể có người ôm lấy tôi.
Dù không nhìn thấy, tôi vẫn biết, Ôn Dĩ Văn đang ở đó.
Có lẽ tôi là người tỉnh đầu tiên, trên toa vẫn còn vài người.
Hơn hai mươi hành khách, cùng người đàn ông trung niên và đứa trẻ kia.
Ít đi bốn phần năm, toa tàu bỗng không còn chật chội nữa.
Nhưng lại càng âm u đáng sợ.
“Đây… đây là đâu?” Một hành khách vừa mở mắt thấy cảnh này liền sợ hãi hét lên, hoảng loạn.
Một nữ sinh còn hét thất thanh, khiến tai tôi đau nhói.
Cũng đánh thức tất cả mọi người.
Ai nấy đều hoảng sợ nhìn xung quanh, bất cứ ai thấy cảnh này cũng sẽ sợ.
Hãy tưởng tượng, bạn đang ngủ trên tàu, tỉnh dậy lại phát hiện hơn nửa người trên xe biến mất, xung quanh như một lễ cưới, nhưng lại có bài vị và di ảnh — liệu có không sợ không.
Tôi đặc biệt chú ý đến động tĩnh của người đàn ông trung niên, ông ta vừa tỉnh đã nhìn quanh, như đang tìm thứ gì.
Tôi chợt nảy ra một ý, nhẹ nhàng đi vòng ra sau lưng ông ta.
Ghẽ sát tai ông ta, khẽ hỏi: “Ông đang tìm tôi à?”
“A——” một tiếng hét thảm thiết, ông ta sợ đến mức ngã luôn khỏi ghế.
Đồ nhát gan.
Gan bé thế mà còn dám làm chuyện này.
“Cô! Cô!” Ông ta trợn mắt chỉ tôi hỏi, “Sao cô vẫn thế này? Chẳng phải… chẳng phải cô phải thay áo cưới rồi sao?”
Cô dâu ký khế ước đúng là sẽ thay áo cưới trong lễ, nhưng tôi vốn đâu có viết tên mình.
Ngược lại tôi còn hơi tò mò, nếu Ôn Dĩ Văn mặc áo cưới thì trông sẽ thế nào.
Đáng tiếc tôi biết, với hiệu lực của khế ước này, chắc chắn không thể ràng buộc được anh.
Lúc này tôi mới để ý đứa bé có gì đó rất kỳ lạ, đôi mắt đen như mực, không hề thấy lòng trắng.
Nó nhìn tôi trân trân, trong mắt lóe lên vẻ oán độc khắc cốt.
Ánh nhìn đầy ác ý khiến tôi nhíu mày.
Giây tiếp theo, nó như nhìn thấy thứ gì không nên thấy, đột nhiên nhắm mắt rồi ngã ngửa ra sau.
Nhưng giờ chẳng ai rảnh để ý đến nó.
Một hành khách hét lên: “Túi… túi tôi sao lại có tiền giấy ——”
“Của tôi! Tôi cũng có!”
“Chuyện gì vậy!”
“Tôi biết rồi! Là người kia, tiền trong phong bao ông ta cho chúng ta biến thành tiền giấy rồi.”
Chút tiền đó mà cũng không nỡ dùng tiền thật, toàn là tiền mua mạng.
Trước đó hành khách nhận phong bao rồi bỏ giấy chúc vào trả lại, nên tiền đều cất vào túi.
Tôi sờ túi mình, lấy ra vẫn là tiền thật, không nhiều, chỉ một nghìn tệ.
Ha.
Chút tiền này mà muốn mua mạng tôi.
Không thấy nhà họ Ôn mua mạng tôi còn bỏ ra một triệu sao.
Ngay lúc đó, trong lư hương trên bàn bốc lên một làn khói xanh, một người phụ nữ đầy châu báu, mặc hoa phục bay ra.
“Mời tân nương ——”

