Nam nhân ấy, người nam nhân mà ta gọi là “phụ thân”, năm đó trơ mắt nhìn mẫu thân ta bị đánh chết, một xác hai mạng, vậy mà ngay cả một câu nặng lời cũng chưa từng nói với hung thủ.

Ông cho phép thiếp thất của mình giết chết thê tử kết tóc, cho phép đích nữ của mình sống trong phủ như một kẻ thừa thãi.

Ông dung túng Liễu di nương đẩy tỷ tỷ vào hố lửa, lại coi ta như không tồn tại.

Trong mắt ông chỉ có Liễu di nương.

Chỉ có chốn ôn nhu và những ngày tháng sung sướng của ông.

Loại nam nhân như vậy không xứng làm phụ thân, càng không xứng sống.

Thân thể phụ thân vốn đã không tốt.

Phụ thân ta là Thẩm Bá Dung, trong mắt người ngoài phong lưu nho nhã, được bảo dưỡng rất tốt.

Nhưng ông ham rượu, thích đồ lạnh, còn vì muốn thỏa mãn Liễu di nương yêu mị như hồ ly mà âm thầm dùng một số loại thuốc mạnh trợ hứng.

Tửu sắc đã sớm vét sạch căn cơ thân thể ông.

Thái y từng đến khám, nói ông gan nóng thận khô, kê một số phương thuốc ôn bổ, bảo ông phải cẩn thận điều dưỡng.

Đương nhiên ông không chịu kiêng khem.

Rượu vẫn uống, thịt vẫn ăn, Liễu di nương chỉ cần làm nũng một câu, ông sẽ chiều theo mọi chuyện.

Điều này vừa hay hợp ý ta.

Ta không dùng thuốc mạnh giống như khi đối phó Tống viên ngoại.

Đối với phụ thân, thủ đoạn của ta càng kín đáo và “chu đáo” hơn.

Ta nghiên cứu ra một loại “trà thanh tâm an thần”, bên trong cho thêm vài loại dược liệu quý giá, có thể khiến ông cảm thấy thoải mái sau khi uống rượu, nhanh chóng khôi phục tinh lực sau khi mệt mỏi.

Ta dâng toa trà này cho Liễu Như Mi.

“Di nương, đây là bí phương cung đình ta tìm được trong sách cổ, có tác dụng bồi bổ long thể. Phụ thân ngày ngày vất vả, di nương hầu hạ bên cạnh càng thêm nhọc lòng. Loại trà này có lẽ có thể giúp phụ thân và di nương thư thái cả thể xác lẫn tinh thần.”

Liễu Như Mi nhận lấy, tìm người kiểm tra.

Đương nhiên toàn bộ đều là thuốc bổ thượng hạng, không có một chút độc tính nào.

Bà ta vui mừng khôn xiết, cảm thấy đứa kế nữ như ta cuối cùng cũng hiểu chuyện, biết lấy lòng bà ta.

Ngay cả phụ thân cũng nói:

“Khó cho con có được phần hiếu tâm này.”

Từ đó, loại “trà thanh tâm an thần” này trở thành trà mà phụ thân ta ngày nào cũng phải uống.

Loại trà này quả thật là thuốc bổ, hơn nữa còn là thuốc đại bổ.

Nhưng nó có một đặc tính.

Nếu dùng cùng rượu và một số loại thuốc trong chuyện phòng the, nó sẽ tăng mạnh gánh nặng cho tâm mạch, âm thầm hao hết nguyên khí của con người.

Nước ấm từ từ luộc chết con ếch.

Cơ thể phụ thân ta cứ thế dần suy sụp dưới sự “bồi bổ” ngày qua ngày.

Ông bắt đầu thường xuyên cảm thấy tim đập nhanh, mệt mỏi, đầu váng mắt hoa.

Thái y đến khám, chỉ nói ông làm việc quá sức, cần phải tĩnh dưỡng.

Chỉ có ta biết lục phủ ngũ tạng của ông đã giống như một cây đại thụ bị mối mọt đục rỗng.

Bề ngoài nhìn vẫn còn nguyên vẹn, nhưng chỉ cần nhẹ nhàng đẩy một cái sẽ hoàn toàn sụp đổ.

Nửa năm sau, cuối cùng phụ thân cũng nằm liệt giường, không thể dậy nổi.

Thái y đến rồi đi, đi rồi lại đến.

Mỗi lần khám xong đều lắc đầu, kê những phương thuốc vô thưởng vô phạt, nói mấy câu khách sáo như “hãy nghỉ ngơi thật tốt”.

Không một ai nhìn ra vấn đề.

Tất cả chỉ cho rằng đó là bệnh căn quốc công gia để lại từ khi còn trẻ, bây giờ tuổi tác đã cao, đương nhiên không chịu nổi nữa.

Liễu di nương ngày đêm canh giữ trước giường bệnh, tự mình sắc thuốc, đút thuốc, khóc đến nước mắt nước mũi giàn giụa.

Bà ta thật sự đau lòng.

Dù sao nam nhân này là bầu trời của bà ta, là chỗ dựa duy nhất để bà ta tác oai tác quái trong phủ.

Ông ngã xuống, bà ta sẽ chẳng còn là gì nữa.

Bà ta khóc chân thành đến mức ngay cả ta cũng suýt cho rằng bà ta có vài phần tình cảm thật lòng.

Nhưng cũng chỉ là “suýt nữa”.

Ta biết bà ta sợ điều gì.

Điều bà ta sợ không phải là mất đi ông, mà là sau khi mất ông, bà ta phải sống thế nào.

Dù sao bà ta không có nhi tử.

Mà trong phủ này có ta.

Phụ thân tắt thở vào đầu xuân.

Hôm đó trời rét trở lại, bên ngoài có những hạt tuyết nhỏ bay xuống, đập vào giấy dán cửa sổ, phát ra tiếng xào xạc.

Trong phòng đốt than, hơi nóng khiến người ta buồn ngủ.

Ta canh giữ bên giường phụ thân, nắm lấy bàn tay gầy khô như củi của ông.

Ông mơ màng mở mắt, đã không còn nhận rõ người.

Môi ông mấp máy mấy lần, phát ra âm thanh mơ hồ không rõ.

Ta ghé sát lại nghe, mới miễn cưỡng nhận ra vài chữ:

“…Đi… gọi di nương của con…”

Trong giây phút cuối cùng, người ông gọi là Liễu di nương.

Không phải tên mẫu thân, cũng không phải tên ta và tỷ tỷ.

Là người nữ nhân đã giết chết thê tử kết tóc của ông.

Ta đặt tay ông trở lại trong chăn, đứng dậy, không chút biểu cảm.

Liễu di nương loạng choạng xông vào, nhào xuống trước giường, khóc đến xé lòng xé dạ:

“Lão gia! Lão gia, chàng nhìn thiếp đi! Chàng đừng đi! Chàng đi rồi, thiếp phải sống thế nào đây!”

Bà ta khóc đến đứt từng khúc ruột, tiếng khóc vang vọng khắp linh đường.

Hạ nhân quỳ kín dưới đất.

Có người thật lòng đau buồn, có người giả vờ lau nước mắt, cũng có người lén ngẩng đầu quan sát.

Ta đứng bên cạnh, nhìn cảnh tượng này.