Người đàn ông da đen hơn năm mươi tuổi ấy, khi khom lưng, vai run lên.

“Xuân Hòa, mạng của cái làng này, là cô cứu.”

Tôi chống hộp thuốc, chân mềm nhũn suýt quỳ xuống đất.

Vương Quế Hoa lao tới đỡ tôi.

Về đến nhà, bà Triệu câm đứng trước bếp canh một bát canh nóng.

Bà nhìn thấy dáng vẻ tôi, nước mắt lập tức trào ra, há miệng muốn gọi tên tôi.

Bà không phát ra được âm thanh.

Nhưng khẩu hình miệng bà tôi nhận ra.

Xuân Hòa.

Tôi chúi đầu vào lòng bà, khóc òa.

Kiếp trước, trận tuyết này giết tôi.

Kiếp này, tôi giết nó.

13

Những ngày sau trận tuyết lớn, quy mô ruộng dược liệu mỗi năm một mở rộng, từ hai mẫu ban đầu dần dần tăng lên mười lăm mẫu.

Hoàng kỳ, đương quy, sài hồ, đảng sâm — những thứ trong núi vốn mọc đầy rồi mục nát trong đất — được tôi và Trần Giác trồng lên từng loại một.

Trạm thu mua của công xã tới nghiệm thu, kỹ thuật viên xem phẩm chất rồi nói một câu: “Hạng nhất toàn huyện.”

Cuối năm chia lợi nhuận, riêng khoản dược liệu, mỗi nhà được chia thêm gần năm đồng.

Năm đồng trong thời đó, đủ tiền dầu muối cho một gia đình trong hai tháng.

Cuộc sống của người trong làng ngày một tốt hơn.

Một buổi chiều bình thường mùa thu năm sáu tám, tôi đang ở phòng y tế xử lý vết thương cho một đứa trẻ.

Trước cửa bỗng tối lại.

Một người đàn ông mặc quân phục đã phai màu đứng ở bậc cửa.

Gầy đến mức biến dạng, chân trái đi tập tễnh sâu cạn không đều, trên mặt có một vết sẹo từ thái dương kéo dài tới sau tai.

Anh nhìn tôi, lông mày từ từ nhíu lại.

Anh không hỏi “Cô là ai.”

Anh nhìn tôi rất lâu, lâu đến mức tôi tưởng anh đang nhận diện điều gì đó. Rồi anh mở miệng, giọng rất thấp, như đang xác nhận một chuyện đã nghĩ rất lâu.

“Cô chính là Tần Xuân Hòa.”

Không phải câu hỏi.

Tôi đặt miếng băng gạc trong tay xuống, nhìn thẳng vào anh.

“Mẹ anh đang đợi ở nhà, về trước đi.”

Anh không động.

Ánh mắt anh từ mặt tôi chuyển sang tấm bảng gỗ của phòng y tế, rồi chuyển sang những chai dược thảo xếp ngay ngắn trên tủ thuốc.

Sau đó ánh mắt anh lại trở về trên người tôi, trong đó có một thứ tôi đọc không ra.

“Trong thư mẹ tôi vẽ cô suốt năm năm.” Giọng anh hơi khàn, “Nhưng người gả tới, vốn dĩ phải là Tần Xuân Phương.”

Anh không phải không biết.

Anh biết hết.

Mỗi lá thư của bà Triệu câm, mỗi bức vẽ, anh ở tiền tuyến đã xem suốt năm năm. Anh biết người gả tới đã đổi, biết cô gái tên Xuân Hòa này đang thay anh giữ nhà, nuôi mẹ anh.

Nhưng biết là một chuyện.

Đứng đối diện lại là chuyện khác.

“Tần Xuân Phương là chị tôi. Chị ấy không muốn gả, mẹ tôi nhét tôi qua thay.”

Tôi không né tránh, cũng không giải thích thêm.

“Nếu anh không nhận cuộc hôn sự này, tôi sẽ dẫn mẹ anh đi. Cái nhà này tôi giữ năm năm, không thẹn với lòng.”

Yết hầu anh chuyển động một cái.

Rồi anh tập tễnh quay người đi.

Không nói thêm một lời thừa nào.

Tối hôm đó tôi nghe thấy tiếng từ gian tây bên cạnh truyền sang. Tiếng khóc khàn bị nén trong cổ họng của bà Triệu câm, và giọng trầm thấp, ngắt quãng của một người đàn ông đang an ủi.

Tôi ngồi trên mép giường đất gian đông, tay nắm đèn dầu.

Tim đèn nhảy hai cái, tắt.

14

Những ngày sau đó, Cố Hoài An và tôi như hai người xa lạ sống chung dưới một mái nhà.

Anh ngủ gian tây, tôi và bà Triệu câm ngủ gian đông. Sáng sớm anh vác cuốc ra ngoài, tối mịt mới về. Về rồi cũng không nhìn tôi, cúi đầu ăn cơm, ăn xong vào phòng đóng cửa.

Vết thương cũ ở chân trái anh tái phát nhiều lần, đi lại sâu cạn không đều. Một tai bị sức ép pháo làm điếc, người ta nói chuyện phải đứng bên phải anh mới nghe được.

Nhưng anh không nói gì.

Bà Triệu câm sốt ruột đi vòng vòng, lúc chỉ tôi lúc chỉ anh.

Ý bà tôi hiểu — bà muốn chúng tôi hòa thuận.

Nhưng hòa thế nào?

Anh ở tiền tuyến xem bức vẽ năm năm, trong tranh là cô gái thắt bím tóc, và người sống sờ sờ trước mặt — là một mà lại không phải một.

Người trong tranh không có tiếng nói, không có tính khí, không có cái miệng sẽ cãi anh.

Người trước mặt này sẽ chắn trước chum lương thực mà đuổi người, sẽ ngồi khóc giữa tuyết, sẽ cầm que củi bảo vệ nhà — anh không biết phải đối diện thế nào.

Tôi không chủ động tìm anh nói chuyện.

Nhưng cái chân anh tôi để ý.

Một đêm có mưa, tôi dậy thu dược liệu phơi ngoài sân, đi ngang gian tây nghe bên trong có tiếng rên nén lại hết sức.

Trước cửa đặt một đôi giày dính đầy bùn. Bên cạnh giày là cây kéo tôi phơi trên tủ thuốc ban ngày — anh giúp tôi thu vào, đặt ngay ngắn.

Tôi đứng ngoài cửa nghe một lúc, rồi về phòng lấy hộp thuốc.

Cửa không khóa. Đẩy ra một khe, thấy anh ngồi ở mép giường đất, ống quần xắn lên trên đầu gối, vết thương cũ ở chân trái nứt ra một đường, máu thấm ướt một mảng quần.

ĐỌC TIẾP : https://vivutruyen.net/sau-khi-thay-chi-ga-cho-quan-nhan-toi-nuoi-ca-lang-qua-mua-doi/chuong-6