Trần Đại Tráng đau đến lăn lộn dưới đất, tiền tổ mẫu cũng bị dọa cho chết khiếp, không gào nổi nữa.

Lục thúc thúc thong thả thu roi lại, ánh mắt sắc như đao lướt qua mặt Trần Đại Tráng.

“Ngươi nói ai là giày rách? Ai là con tiện?”

Trần Đại Tráng run lẩy bẩy, bò lùi về phía sau.

“Tư… tướng quân… đây… đây là việc nhà ta…”

“Việc nhà?”

Lục thúc thúc khẽ cười lạnh, đẩy ta và a nương ra sau lưng, bóng lưng vững chãi như núi.

“Du nhi nay là chính thê của ta – Lục Thận, danh chính ngôn thuận, đã nhập gia phả nhà họ Lục.”

“Đoàn Đoàn là nữ nhi của ta – Lục Thận, mang họ nhà họ Lục.”

“Ngươi đứng trước cửa phủ ta, đánh phu nhân của ta, cướp nữ nhi của ta, còn dám nói là việc nhà ngươi?”

Người nói một câu, bánh xe lại tiến một bước.

Trần Đại Tráng mặt trắng bệch, trong quần thậm chí còn bốc lên mùi nước tiểu.

“Ngươi đã thích nhận thân như thế, Trung bá.”

“Lão nô có mặt.”

“Cầm thiếp mời của ta, đưa hắn đến Thuận Thiên phủ, tâu với đại nhân phủ doãn rằng hắn ngang nhiên hành hung giữa phố, mưu hại thân quyến mệnh quan triều đình, phiền ngài trị tội thật nghiêm.”

Nghe đến phải gặp quan, tiền tổ mẫu trợn trắng mắt, ngất xỉu tại chỗ.

Trần Đại Tráng quỳ sụp, dập đầu như giã tỏi.

“Tướng quân tha mạng! Tiểu nhân không dám nữa! Đứa nhỏ giao cho ngài! Cho ngài làm nữ nhi! Tiểu nhân không nhận thân nữa!”

Lục thúc thúc nhíu mày, lộ rõ vẻ chán ghét.

“Cút.”

Trần Đại Tráng như được đại xá, kéo bà già đang hôn mê bỏ chạy, cả giày rơi mất cũng không dám quay đầu lại nhặt.

Đám người tản đi, trước cửa Lục phủ lại trở nên yên ắng.

A nương bò dậy khỏi đất, mặc kệ tay mình bị thương, lập tức kiểm tra ta có bị gì không.

“Đoàn Đoàn, có đau ở đâu không?”

Ta lắc đầu, nhưng ánh mắt vẫn nhìn chằm chằm Lục thúc thúc.

Người ném roi cho Trung bá, chẳng thèm liếc chúng ta một cái, xoay xe lăn định quay vào.

“Lần sau ra ngoài nhớ mang theo gia đinh, để chó mèo ăn hiếp, thật mất mặt.”

Tuy lời nói khó nghe, nhưng ta biết, người đang bảo vệ chúng ta.

Ta hất tay a nương ra, lạch bạch chạy đến chắn trước xe lăn.

Lục thúc thúc buộc phải dừng lại, cau mày nhìn ta:

“Làm gì?”

Ta ngửa đầu nhìn khuôn mặt râu ria của người, nghiêm túc nói:

“Thúc thúc, vừa rồi thật oai phong.”

Lục thúc thúc sững người, khó chịu quay mặt đi:

“…Là cái roi oai phong.”

“Không phải cái roi.”

Ta lấy hết can đảm, vươn tay nhỏ, nắm lấy một ngón tay đang đặt trên đùi người.

“Là cha oai phong.”

Không khí như ngưng đọng.

A nương đứng phía sau, lấy tay che miệng.

Ngón tay Lục thúc thúc run lên một chút, cúi đầu, không dám tin nhìn ta:

“Ngươi… gọi ta là gì?”

“Cha.”

Ta gọi lớn hơn, mắt cong cong như vầng trăng non: “A nương bảo, người che chở Đoàn Đoàn và a nương, chính là cha tốt nhất.”

Yết hầu Lục thúc thúc khẽ động, gương mặt thường ngày cứng nhắc như đá lạnh, lúc này như mặt hồ bị gió xuân thổi qua, dần dần xuất hiện vết rạn.

Hốc mắt người đỏ lên.

Người định rút tay ra, nhưng bị ta nắm rất chặt.

Cuối cùng, người thở dài một hơi, dùng bàn tay to thô ráp đầy vết chai, vụng về mà nhẹ nhàng, xoa đầu ta.

“…Ừ.”

Giọng nói rất khẽ, như sợ kinh động điều gì.

“Vào đi, cha… bảo người làm món sườn xào chua ngọt cho con.”

4

Từ sau một tiếng “cha” kia, không khí trong phủ đã hoàn toàn đổi khác.

Trên mặt Trung bá đầy những nếp nhăn mà giờ cười nở như hoa, gặp ai cũng nói phủ tướng quân cuối cùng cũng có nhân khí rồi.

Lục Thận – giờ ta gọi là cha – tuy vẫn không thích ra ngoài, nhưng cũng chẳng còn suốt ngày tự nhốt mình trong gian phòng tối om nữa.

Người sẽ ngồi đọc sách ngoài sân, thỉnh thoảng lại cầm khúc gỗ cưa cắt tỉ mẩn.

Ta biết người đang khắc gì – là một con ngựa gỗ nhỏ.

Là khắc cho ta.

Nhưng ta không dám vạch trần, a nương nói đó gọi là “thể diện của nam nhân”.

Hôm ấy, trong cung có người tới.

Nói rằng hoàng thượng muốn thiết yến tại ngự hoa viên, mời các vị khai quốc công thần mang theo gia quyến đến dự.

Cha từng là Trấn Bắc đại tướng quân, tất nhiên nằm trong danh sách được mời.

Trung bá cầm thiếp mời in kim trong tay, mặt mày đầy ưu tư.

“Thưa tướng quân, chuyện này… có đi không ạ?”

Từ sau khi bị thương ở chân, cha chưa từng tham dự yến tiệc kiểu ấy.

Những kẻ từng khom lưng kính cẩn trước mặt người, giờ ánh mắt nhìn người phần nhiều là tiếc hận, thương hại, thậm chí vui sướng trên nỗi đau người khác.

Nhất là mấy vị văn thần, giỏi mồm mép, thích nhất là lôi đôi chân của người ra làm trò cười.

Cha nhìn thiếp mời, sắc mặt tối đen như đáy nồi.

Người ném thiếp lên bàn, lạnh giọng buông hai chữ:

“Đốt đi.”

“Khoan đã.”

A nương bưng một đĩa trái cây cắt sẵn bước vào, nhặt lấy thiếp mời.

Người nhẹ nhàng phủi bụi bám trên đó.

“Hà tất phải trốn? Tướng quân là dựa vào công huân mà lập được địa vị, đôi chân này cũng là vì nước mà bị thương, nếu nay lại co đầu rụt cổ, lẽ nào chẳng khiến thiên hạ cho rằng chúng ta có tật giật mình?”

Cha đột ngột ngẩng đầu, ánh mắt sắc như dao.

“Ngươi biết cái gì! Ngươi muốn ra mặt khoe mẽ, hay muốn nhìn ta bị người ta cười như khỉ trong lồng?”

A nương không giận, chỉ đưa một miếng dưa mật đến bên miệng người.