Cảnh sát Phương nhìn cảnh sát Lâm một cái.

Cảnh sát Lâm mở một tập hồ sơ đưa qua.

Tôi không nhìn thấy chữ bên trong, nhưng tôi thấy biểu cảm của cảnh sát Phương thay đổi.

Bà đóng tập hồ sơ lại, im lặng hơn mười giây.

Rồi nói.

“Đinh Tiểu Vũ, mất tích tháng 3 năm 2013, người trấn Hà Đông, lúc mất tích chín tuổi.”

“Triệu Giai Giai, mất tích tháng 11 năm 2012, người khu Thành Nam, lúc mất tích bảy tuổi.”

“Đến nay vẫn chưa tìm thấy.”

Móng tay tôi bấm vào lòng bàn tay.

“Cháu biết chỉ có vậy,” tôi nói, “trên tường còn chữ khác, nhưng có chỗ không nhìn rõ nữa.”

“Bị nước ngâm.”

Cảnh sát Phương thở dài một hơi.

“Trong thư cháu nhắc đến một chiếc áo bông đỏ, cổ thêu hoa dành dành.”

“Cháu chắc chứ?”

“Chắc.”

Bà không nói thêm.

Nhưng từ ánh mắt bà, tôi hiểu.

Chủ nhân chiếc áo bông đỏ đó, họ cũng có ghi chép.

Có thể là Khương Tuệ.

Cũng có thể là một đứa trẻ nào đó sớm hơn.

“Khương Hoà,” cảnh sát Phương đứng dậy, “những chuyện tiếp theo cháu không cần lo.”

“Chúng tôi sẽ xử lý.”

Bà nói “không cần lo”, nhưng ánh mắt nhìn tôi không còn như nhìn một đứa trẻ tám tuổi nữa.

Sau khi họ rời đi, tôi đứng trong sân rất lâu.

Ánh mặt trời chiếu lên mặt, ấm đến mức hơi không thật.

Kiếp trước tôi cũng thường tưởng tượng nhiệt độ của mặt trời.

Trong tầng hầm, bóng đèn sáng hai mươi bốn giờ.

Đèn sợi đốt, ánh vàng đục.

Có lúc tôi nhìn chằm chằm bóng đèn, giả vờ đó là mặt trời.

Nhìn lâu, trước mắt sẽ xuất hiện một vệt sáng.

Vệt sáng đó là thứ gần với ánh nắng nhất mà tôi từng thấy trong mười một năm.

Thím Chu gọi tôi vào ăn cơm.

Tôi đáp một tiếng rồi vào ngồi xuống.

Trong bát là cháo trắng, ăn kèm dưa muối và một quả trứng luộc.

Rất bình thường.

Nhưng tôi ăn hai bát.

Bởi vì tôi biết, phần khó nhất vẫn còn ở phía sau.

Buổi chiều, tôi dùng điện thoại của thím Chu gọi một số.

Số điện thoại này là âm thanh cuối cùng tôi nghe thấy trước khi chết kiếp trước.

Chuỗi số Triệu Đức Phát đọc khi nghe điện thoại — hắn đang báo một địa chỉ mới.

Tôi không gọi được.

Nhưng tôi ghi số đó lại, viết vào một mảnh giấy, nhét vào lá thư thứ hai gửi cho cảnh sát Lâm.

Lá thư rất ngắn, chỉ có một câu.

“Đây là số điện thoại khác của Triệu Đức Phát, kiểm tra lịch sử cuộc gọi sẽ biết mẹ cháu đã gọi cho hắn bao nhiêu lần.”

08

Ngày 17 tháng 3.

Tính từ lúc tôi trọng sinh trở về, là ngày thứ tám.

Ngày này ở kiếp trước, tôi đã ở trong tầng hầm được ba ngày rồi.

Ngày thứ ba sau khi cánh cửa sắt đóng lại, tôi không còn khóc nữa.

Không phải vì dũng cảm.

Mà là vì cổ họng khàn rồi, khóc không ra tiếng.

Chiều hôm đó, cảnh sát Phương dẫn đội đến số 171 đường Hợp Hưng.

Tôi không có mặt ở hiện trường, nhưng sau đó cảnh sát Lâm đã kể cho tôi.

Lẽ ra ông không được phép nói. Nhưng ông vẫn nói.

Ông nói khi họ mở cánh cửa sắt phòng 703 ra, bên trong có một đứa trẻ.

Một bé trai, khoảng sáu tuổi.

Co ro trong góc, trên ngón tay toàn là vết máu do cào tường để lại.

Khi nhìn thấy ánh sáng, thằng bé không chạy tới.

Nó co rút vào góc sâu hơn.

Bởi vì nó đã không còn tin người mở cửa là đến cứu nó nữa.

Khi cảnh sát Lâm kể đến đây, giọng ông khàn đi.

Ông dụi dụi mắt, giả vờ là vì buồn ngủ.

“Đứa trẻ đó tên là Chu Dương, người ở thành phố này, mất tích từ một tháng trước.”

“Mẹ nó đã báo cảnh sát, tìm suốt ba mươi mốt ngày.”

Ba mươi mốt ngày.

Cậu bé ấy đã đếm ba mươi mốt ngày trong bóng tối.

Còn tôi đã đếm hơn bốn nghìn ngày.

“Triệu Đức Phát đâu rồi?” tôi hỏi.

“Bắt được rồi, ở quê hắn.”

“Hắn chạy rồi à?”

“Hắn tưởng gió đã êm.”

Cảnh sát Lâm cười một cái, không có chút ý cười nào.

“Hắn không biết chúng tôi đã nắm được số điện thoại thứ hai của hắn.”

“Trong lịch sử cuộc gọi, mẹ cháu đã gọi cho hắn bốn mươi bảy cuộc. Cuộc đầu tiên sớm nhất—”

Ông nhìn tôi một cái.

“Tháng 6 năm 2011.”

ĐỌC TIẾP : https://vivutruyen.net/sau-con-so-khac-tren-tuong/chuong-6