Cô gái cùng phòng tên Hà Mạn, cha làm việc tại nhà máy thực phẩm trong huyện. Nhìn thấy chiếc bánh của tôi, cô ta bịt mũi cười.

“Hứa Trĩ Hòa, ngày nào cô cũng ăn thứ này, không bị nghẹn à?”

Tôi không để ý tới cô ta.

Cô ta mở chiếc ca tráng men của tôi ra, bên trong chỉ có dưa muối.

“Chồng cô không phải đang nuôi cô đi học sao? Tại sao đến phiếu ăn cũng không đưa đủ?”

Hai cô gái còn lại trong phòng cúi đầu giả vờ đọc sách, nhưng bờ vai khẽ rung lên.

Tôi giật lại chiếc ca.

“Đừng động vào đồ của tôi.”

Hà Mạn bĩu môi.

“Dữ dằn cái gì? Đúng là người nhà quê, nhỏ mọn.”

Tôi siết chặt chiếc ca, miệng ca cấn vào lòng bàn tay.

Tối hôm ấy, tôi viết lá thư đầu tiên.

Lương Thủ Sơn:

Em đã đến trường. Ký túc xá có bốn chiếc giường, thức ăn ở nhà ăn cũng được. Thầy cô giảng bài rất nhanh nhưng em vẫn theo kịp.

Anh đừng làm ca đêm mãi, tiền vẫn đủ dùng.

Viết đến đây, tôi dừng lại rất lâu.

Bên ngoài cửa sổ, gió thổi qua những chiếc lá ngô đồng. Có người bưng nước nóng chạy trên hành lang, tiếng bước chân hỗn loạn.

Tôi muốn viết rằng mình bị người khác chế giễu, muốn viết rằng mình ăn không đủ no, muốn viết rằng ban đêm lạnh đến mức không ngủ được.

Nhưng khi đầu bút đặt xuống, tôi chỉ viết câu cuối cùng.

Anh nhớ ăn cơm đúng giờ.

Nửa tháng sau, tôi nhận được thư hồi âm của anh.

Tờ giấy được xé từ cuốn sổ tính tiền, mép giấy xù xì. Chữ viết rất to, xiêu xiêu vẹo vẹo, nhiều chữ còn được thay bằng phiên âm.

Trĩ Hòa:

Anh ăn nhiều lắm, đừng lo.

Ca đêm không mệt.

Em mua thịt ăn, đừng tiết kiệm.

Anh gửi cho em mười lăm đồng.

Phía dưới còn một dòng đã bị gạch đi rồi viết lại.

Anh nhớ em.

Ba chữ ấy được viết rất mạnh, mực nhòe ra, thấm đen cả mặt sau tờ giấy.

Tôi nhìn chằm chằm vào dòng chữ, cổ họng như bị thứ gì đó chặn lại. Nửa chiếc bánh dưới gối đã cứng đến mức không thể cắn nổi, nhưng tôi không nỡ vứt đi.

Sau đó, tháng nào Lương Thủ Sơn cũng gửi tiền.

Mười đồng, mười hai đồng, nhiều nhất là hai mươi đồng.

Thư của anh rất ngắn.

Trời lạnh, mặc thêm áo.

Đừng uống nước lạnh.

Thi cử đừng căng thẳng.

Anh không sao.

Lá thư nào cũng nói mình không sao.

Nhưng thím Vương lén nhờ người gửi tin cho tôi, nói Lương Thủ Sơn từng ngất xỉu một lần ở lò gạch. Tay bị gạch đập sưng, ba ngày không cầm nổi đũa.

Tôi siết lá thư, chạy thẳng tới bưu điện gửi điện báo cho anh.

Đừng gửi tiền, hồi âm ngay.

Ba ngày sau, anh chỉ trả lời năm chữ.

Thật sự không sao, học đi.

Tôi đứng rất lâu trước cửa bưu điện. Người đưa thư hỏi tôi có đi không, tôi lắc đầu.

Bên ngoài trời mưa. Nước từ mái hiên đập xuống bậc đá. Tôi nhớ đến mái nhà đất phía đông cũng bị dột, không biết Lương Thủ Sơn có lại đặt chậu cạnh giường, thức cả đêm nghe tiếng nước nhỏ xuống hay không.

Mùa xuân năm thứ hai, trường tổ chức thực tập. Tôi được phân đến một trường tiểu học trong huyện.

Hà Mạn cũng ở đó.

Gia đình gửi cho cô ta áo bông mới, giày da và sữa mạch nha. Giáo viên khen chữ viết bảng của cô ta đẹp, cô ta mỉm cười nhìn tôi.

“Hứa Trĩ Hòa, chồng cô lại gửi đồ quê mùa tới à?”

Trên bàn tôi đặt một chiếc bao tải căng phồng.

Mở ra, bên trong là khoai lang khô, lạc rang, một đôi giày bông và một chiếc áo bông nhỏ được sửa lại từ áo cũ của đàn ông.

Đường kim dày đặc, cổ tay áo được khâu hơi lệch.

Hà Mạn bật cười.

“Áo này quê mùa quá, cô thật sự định mặc sao?”

Tôi vuốt cổ tay áo. Đường kim rất thô nhưng từng mũi đều được khâu thật chặt.

Dưới đáy bao tải có một lá thư.

Trĩ Hòa:

Bông mới được đánh lại, vải ngoài cũ rồi, em đừng chê.

Tay anh vụng, tay áo sửa ba lần.

Mặc lúc lên lớp, đừng để bị lạnh.

Tôi ôm chiếc áo bông nhỏ, vùi mũi vào lớp vải. Trên đó có mùi bồ kết và một chút mùi khói củi.

Hà Mạn vẫn tiếp tục cười.

Tôi ngẩng đầu nhìn cô ta.

“Cô thì hiểu gì?”

Sắc mặt cô ta trầm xuống.

“Tôi không hiểu à? Tôi chỉ biết cô mặc thứ này đứng trên bục giảng sẽ làm người khác mất mặt.”

Tôi mặc chiếc áo vào, cài từng chiếc cúc.

“Tôi không thấy mất mặt.”

“Có người thức đêm vác gạch, còn tự tay may áo bông cho tôi. Tại sao tôi phải thấy mất mặt?”

Văn phòng im lặng.

Cô giáo lớn tuổi họ Lý bước vào từ cửa, nhìn tôi rồi lại nhìn chiếc áo bông.

Cô đi đến bên tôi, đưa tay sờ cổ tay áo.

“Đường kim không khéo nhưng rất có lòng.”

Sắc mặt Hà Mạn trở nên khó coi, cô ta quay người bỏ đi.

Hôm đó, tôi mặc chiếc áo nhỏ do Lương Thủ Sơn sửa, dạy xong tiết học đầu tiên.

Tiếng đọc bài của học sinh tràn ra khỏi cửa sổ. Ánh nắng rơi bên cạnh bảng đen. Tôi cầm viên phấn, vững vàng viết xuống dòng chữ đầu tiên.

Sau giờ học, một bé gái chạy tới hỏi.

“Cô Hứa, áo của cô do ai làm vậy?”

Tôi cúi đầu nhìn cổ tay áo, nhẹ giọng trả lời.

“Người nhà của cô.”

Sau khi nói ra bốn chữ ấy, lồng ngực tôi bỗng nóng lên.

Người nhà.

Thì ra từ lúc nào không biết, tôi đã đặt căn nhà đất phía đông và người đàn ông khom lưng nhóm lửa trước bếp vào trong hai chữ gia đình.

Chương 5

Mùa hè năm thứ ba, Lương Thủ Sơn đến thăm tôi.

Anh không viết thư báo trước.

Chiều hôm đó, tôi đang chấm bài ở cổng trường thì bác bảo vệ ló đầu ra gọi.