Có lẽ đã được chuẩn bị từ sớm, một cỗ kiệu nhỏ, một thân hỉ phục, một tấm khăn voan đỏ.

Lạc phu nhân mang thần sắc phức tạp: “Đông Cẩm, sự phú quý của Lạc gia ở trong tòa thành này không ai có thể sánh bằng đâu.”

Nhưng ta không cầu phú quý.

Ta cúi lạy bái biệt: “Phu nhân, nghe nói thê tử mà ngài đang kén chọn cho thiếu gia, trong mắt không giấu nổi hạt cát, tính tình vô cùng cương trực.”

“Vào cửa Lạc gia ta, tuân thủ quy củ của Lạc gia là được rồi, Đông Cẩm, ngươi sợ tân phu nhân không dung nạp được ngươi sao?”

Cảm nhận được ánh mắt trịch thượng cao cao tại thượng kia, ta thẳng lưng, nhìn thẳng vào mặt bà ấy.

Mấy năm nay, dung mạo bà ấy chưa hề thay đổi, nhưng trong ánh mắt đã chẳng còn sự lo âu muộn phiền như thuở đầu gặp gỡ, giống như mọi người mẹ trên thế gian lo lắng cho hài tử của mình.

Mẫu thân ta mất sớm, ta mới bị ánh mắt thuần túy, tràn đầy mẫu tính đó làm cho cảm động.

Nhưng sau này, khi Lạc Thiếu Ninh khỏi bệnh, ta mới biết, bộ dạng thật sự của bà, chính là một vị Lạc phu nhân ngạo mạn, lãnh mộc của Lạc gia.

Ta lại một lần nữa giới thiệu bản thân mình với bà ấy: “Phu nhân, ta tên là Tô Lăng Sương, không gọi là Đông Cẩm.”

Bà ấy tùy ý mỉm cười cợt nhả, rồi phẩy tay.

“Ngươi đi đi.”

Ta tự dội lên đầu tấm khăn voan đỏ, ngoan ngoãn ngồi lên cỗ kiệu nhỏ kia.

Trương tú tài còn mời người đi đằng trước khua chiêng gõ trống.

Thu Nhiên, người chơi thân với ta nhất, kéo ta lại: “Trong thoại bản đều viết rằng người đọc sách là nhiều tâm nhãn nhất, ngươi thật sự đi theo hắn, lỡ bị tính kế thì biết làm sao?”

“Không sao, cứ coi như lại ngu ngốc thêm một lần nữa.”

“Còn có thể tồi tệ hơn ở đây sao?”

Khi cỗ kiệu nhỏ kia được khiêng đi, Lạc Thiếu Ninh cũng thong dong lắc lư đến Dương Châu.

Sấu mã ở Dương Châu quả thật có chút thú vị, eo đủ mềm, tỳ khí đủ thuận tòng.

Biết đủ trò hoa dạng, làm những chuyện dẫu có nhục nhã đến đâu, cũng chỉ chớp mắt nở nụ cười nịnh bợ lấy lòng người.

Lạc Thiếu Ninh nhìn kỹ nữ sấu mã tên Thu Sương trước mặt, nhưng lại hỏi: “Tên của ngươi cũng xứng có chữ Sương sao?”

Thu Sương không hiểu ý gì, kiều diễm cười tựa tới: “Gia, vậy ngài nói xem ta nên gọi là gì?”

Lạc Thiếu Ninh mặc cho ả ta dựa vào, nhưng tâm trí lại bay bổng về huyện Ngọc Dung của nhiều năm trước.

Một tiểu cô nương với dung mạo vô cùng thanh tú, cẩn thận viết lên giấy ba chữ: Tô Lăng Sương.

Thật xứng với nàng biết bao.

Thế nhưng cái tên này Lạc Thiếu Ninh lại không thích, nghe thật xa vời vợi, phảng phất như một ngày nào đó sẽ tan chảy đi mất.

Hắn đi theo phụ thân và quản sự các nơi học cách làm ăn buôn bán.

Trong đầu lúc nào cũng mưu tính xem làm sao để leo cao bám trụ, làm sao để bóc lột người khác.

Phụ thân nói, cái gì gọi là kiếm bạc, một lạng dược liệu bán với giá một lạng bạc thì không gọi là kiếm, đó gọi là trao đổi.

Một lạng dược liệu bán với giá năm lạng bạc cũng không gọi là kiếm, đó gọi là thù lao.

Một lạng dược liệu bán với giá mười lạng bạc thì đó mới gọi là kiếm, đây mới là việc người làm ăn nên làm.

Nên muốn kiếm bạc mà, ắt phải nhẫn tâm.

Gặp kẻ bị nạn, không cứu, vì đó là mối làm ăn lỗ vốn.

Gặp người cấp bách, cho vay nặng lãi, đục nước béo cò, nếu không vơ vét một món hời, thì phí hoài danh xưng con buôn.

Có người khóc lóc trước cửa tiệm nhà họ Lạc, có kẻ trực tiếp lấy mạng mình để gán nợ.

Lúc dao trắng đâm vào dao đỏ rút ra, Lạc Thiếu Ninh sợ khiếp vía, nhưng phụ thân lại cười lớn sảng khoái.

Chỉ nói bỏ tiền mua lấy một thú vui để xem.

Sau này Lạc Thiếu Ninh cũng quen dần, nhưng lại càng ngày càng không dám nghĩ đến ba chữ kia: Tô Lăng Sương.

Một cô nương mang đầy mùi mặc hương, nếu nhìn thấy hắn của hiện tại vấy đầy máu tươi sẽ nghĩ thế nào?