Ông lấy từ tầng dưới cùng của tủ sách ra một túi hồ sơ cũ.

“Khi tôi nghỉ hưu, thứ tôi mang đi không phải hồ sơ vụ án, mà là bản sao sổ ghi chép công tác cá nhân.”

Luật sư nhíu mày.

“Sổ ghi chép cá nhân không thể trực tiếp xem là chứng cứ định án.”

Khưu Kiến Dân gật đầu.

“Vì vậy hôm qua tôi đã liên hệ đơn vị cũ, nhờ họ tra sổ đăng ký vụ việc năm đó và hồ sơ cấp cứu bệnh viện.”

Nụ cười lạnh của Hạ Trì lại hiện lên.

“Tra đi.”

Khưu Kiến Dân mở sổ ghi chép.

Chữ viết trên giấy rất ngay ngắn.

Ngày 13 tháng 7, 9 giờ 46 phút sáng, Tống Nghiên Thu, nữ, 24 tuổi, báo rằng chồng là Hạ Nam Kiều nhặt được một bé trai gần bến xe Nam Kiều. Trẻ đang sốt, nhập viện, muốn tìm người giám hộ.

Phía sau còn một dòng:

Do người báo án không thể nói rõ tung tích của chồng, đề nghị tiếp tục theo dõi tại viện, thông báo khu vực phối hợp tra tìm.

Trong phòng không ai nói gì.

Khưu Kiến Dân ngẩng đầu nhìn Hạ Trì.

“Đứa bé đó là cậu đúng không?”

Sắc mặt Hạ Trì tái xanh.

“Ai biết có phải bà ta đã bịa sẵn từ trước không.”

Ông Tiền sốt ruột:

“Cậu nói chuyện kiểu gì vậy?”

Thẩm Thanh Lan kéo Hạ Trì lại, giọng run rẩy.

“Tiểu Trì, đừng nói nữa.”

Khưu Kiến Dân lại lấy ra một bản sao.

“Đây là đăng ký cấp cứu năm đó của bệnh viện. Tôi nhờ đồng nghiệp cũ chụp gửi đến.”

Trên đó ghi tình trạng bệnh nhi, người nộp phí là Tống Nghiên Thu.

Chi phí: 200 tệ.

Còn nợ: 1.300 tệ.

Hạ Thư Viễn sầm mặt.

“Bà ta báo án không có nghĩa là không tham gia bắt cóc.”

“Đúng.”

Khưu Kiến Dân nhìn ông ta.

“Nhưng ít nhất có thể chứng minh, ngay từ đầu cô ấy không hề muốn giấu đứa trẻ.”

Câu nói ấy cuối cùng cũng đục ra một khe nứt trên bức tường.

Hạ Trì đột nhiên đứng dậy.

“Vậy sau đó tại sao bà không tìm tiếp?”

Tôi nhìn nó.

“Mẹ có tìm.”

“Bà không có!”

Giọng nó sắc đến run lên.

“Nếu bà tìm rồi, sao tôi lại phải viết bài sau sạp hoành thánh suốt mười tám năm?”

Thẩm Thanh Lan nghe câu này, nước mắt lại rơi.

Hạ Trì như nắm được sức mạnh, chỉ vào tôi tiếp tục hét:

“Nếu bà thật sự muốn đưa tôi về, tại sao lúc tôi ba tuổi không đưa được là thôi?”

“Tại sao không tiếp tục tìm?”

“Tại sao không để tôi sống cuộc đời tốt hơn?”

Mỗi câu “tại sao” không phải để hỏi đáp án.

Mà là để hắt toàn bộ bất mãn của nó lên người tôi.

Khưu Kiến Dân thở dài.

“Cậu bé, có những việc phải điều tra xác minh, không phải cứ hét lên là được.”

Chuông cửa đột nhiên vang lên.

Vợ của Khưu Kiến Dân ra mở cửa.

Ngoài cửa là một người đàn ông trung niên mặc sơ mi xám.

Ông ta tự giới thiệu:

“Tôi là người của phòng lưu trữ bệnh viện số 1 thành phố. Cảnh sát Khưu nhờ tôi mang bản sao hồ sơ cấp cứu năm đó tới.”

Ông ta đưa vào một túi niêm phong.

“Bên trong còn có một bản đăng ký đồ dùng đi kèm năm đó.”

Đồ dùng đi kèm.

Tim tôi đập mạnh.

Mười tám năm trước, chiếc chăn nhỏ trên người đứa bé từng được y tá bệnh viện thu lại.

Sau đó tôi bận đóng viện phí, tìm Hạ Nam Kiều, đi báo án. Khi quay lại hỏi, y tá nói đã để nhầm trong kho.

Khưu Kiến Dân mở túi.

Tờ đầu tiên là hồ sơ cấp cứu.

Tờ thứ hai là phiếu nộp phí.

Tờ thứ ba là bản đăng ký đồ dùng đi kèm, trên đó viết:

Một chiếc chăn trẻ sơ sinh màu xanh, mặt trong có thêu chữ.

Thẩm Thanh Lan lập tức che miệng.

“Thêu chữ gì?”

Người của phòng lưu trữ đẩy kính.

“Ảnh trên bản đăng ký không rõ. Vật gốc có thể vẫn còn trong kho cũ, cần làm thủ tục lấy ra.”

Đúng lúc này, điện thoại của Hạ Thư Viễn reo.

Ông ta nghe vài giây, sắc mặt đột nhiên trắng bệch.

Thẩm Thanh Lan hỏi:

“Sao vậy?”

Hạ Thư Viễn nhìn tôi, rồi nhìn Hạ Trì.

“Đã tìm được dì Tưởng ở nhà cũ.”

9

Dì Tưởng không ở nhà cũ.

Bà sống trong một viện dưỡng lão ở thành phố bên cạnh.

Xe chạy mất hai tiếng.

Suốt đường đi, Hạ Trì ngồi trong xe nhà họ Hạ , không đăng thêm gì nữa.

Tôi ngồi trong xe bán tải của ông Tiền, đau dạ dày đến đổ mồ hôi lạnh.

Ông Tiền đưa bình giữ nhiệt cho tôi.

“Hay là đi bệnh viện trước đi.”

“Gặp bà ấy đã.”

Biển báo ngoài cửa sổ lùi dần về sau.

Càng gần chân tướng, tôi càng sợ nó không giống điều bất cứ ai mong đợi.

Khi hộ lý đẩy dì Tưởng ra, bà đã hơn bảy mươi tuổi.

Tóc bạc hoa râm, ngón tay cong lại, nhưng mắt vẫn còn sáng.

Thẩm Thanh Lan lao tới.

“Dì Tưởng, năm đó có người ôm một đứa bé đến nhà không?”

Dì Tưởng nhìn bà ta rất lâu.

“Thanh Lan?”

Thẩm Thanh Lan vừa khóc vừa gật đầu.

“Là cháu.”

Nước mắt dì Tưởng lập tức trào ra.

“Cháu vẫn còn sống à.”

Câu nói đó khiến tất cả sững sờ.

Thẩm Thanh Lan run giọng:

“Sao dì lại nói cháu còn sống?”

Dì Tưởng nhìn Hạ Thư Viễn.

“Năm đó bố mẹ cậu nói hai vợ chồng các cậu đều không còn nữa.”

Sắc mặt Hạ Thư Viễn trầm xuống đáng sợ.

“Bố mẹ tôi?”

“Đúng.”

Đôi mắt đục của dì Tưởng chậm rãi chuyển sang tôi.

“Còn cô gái này nữa. Cô ấy từng đến.”

Thẩm Thanh Lan lập tức siết chặt tay vịn xe lăn.

“Thật sao?”

Dì Tưởng gật đầu.

“Cô ấy ôm một đứa bé, vai đứa bé có bớt đỏ, hỏi có phải con nhà họ Hạ không.”

Tôi nhắm mắt lại.

Mười tám năm qua, tôi đã vô số lần mơ thấy cánh cửa treo vải trắng ấy.

Hóa ra không phải mơ.

“Vậy tại sao bà không giữ chúng tôi lại?”