“Thanh La, ta biết hắn nói bậy nói bạ, nhưng nghe thấy những lời ấy, trong lòng ta vẫn không dễ chịu.”

Ta nhét một con cá nhỏ vào tay chàng: “Hắn mù mắt, chàng cũng tin theo à? Trong nhà ta có một phu quân biết đọc sách, biết ghi sổ, còn biết bện cua cho ta, ngày tháng tốt biết bao nhiêu.”

Cố Hành Chu ngơ ngác nhìn con cá kia.

Một lát sau, chàng cúi đầu rửa rau, tai lại đỏ lên.

Đêm ấy chàng tính sổ đến canh ba, hôm sau ta mới phát hiện, trang cuối sổ có viết tên ta, bên cạnh còn vẽ một con cua cỏ rất xấu.

Cố Hành Chu đỗ cử nhân, thư từ kinh thành liền đến.

Người viết thư là Lư tiên sinh, Tế tửu Thái học. Lư tiên sinh trước kia từng dạy Cố Hành Chu, biết chàng đã khôi phục hộ tịch, lại xem qua văn chương của chàng, bèn mời chàng vào kinh chuẩn bị dự thi.

Cố Hành Chu cầm thư ngồi nửa ngày, không nói đi, cũng không nói không đi.

Ta biết chàng đang nghĩ gì.

Kinh thành có phủ Quốc công, có Lục Hoài An, có quá khứ từng giẫm chàng vào bùn. Nếu chàng đi, khó tránh khỏi chạm mặt những người ấy.

Ta đặt tiền thuyền đã cất kỹ và địa khế vào tay nải: “Ngày mai sang cửa hàng cho thím Liễu trông nửa tháng, chúng ta vào kinh.”

Cố Hành Chu đột ngột ngẩng đầu: “Nàng cũng đi?”

“Một người chân cẳng bất tiện như chàng, lỡ đi lạc ta còn phải đi nhặt.”

Khóe miệng chàng động đậy, vành mắt đã đỏ trước.

Ta sợ nhất thấy chàng như vậy, vội ném tay nải cho chàng: “Khóc gì mà khóc, mau thu dọn y phục.”

“Ta không khóc.” Chàng dùng tay áo che mặt, giọng lại hơi khàn.

“Vậy chàng lau khô nước mắt đi, đừng nhỏ vào cá muối của ta.”

Kinh thành lớn hơn trấn Thanh Thạch rất nhiều, xe ngựa chạy trên phố có thể ép người thành bánh mỏng. Ta dùng bạc tích cóp từ việc bán hà tiên, thuê một tiểu viện gần cống viện, lại thuê một gian hàng nhỏ ở phố trước, tiếp tục bán cá viên và mì hà tiên.

Ban ngày Cố Hành Chu đọc sách, chiều xuống luôn kéo lê chân đến cửa hàng giúp việc.

Chàng lớn lên quá bắt mắt, xách một giỏ cá đứng bên bếp, thường có mấy cô nương lén nhìn chàng. Chàng lại chẳng nhìn ai khác, chỉ nhìn chằm chằm con dao trong tay ta, sợ ta cắt trúng tay.

Có một lần mu bàn tay ta bị canh nóng làm đỏ lên, sắc mặt chàng trắng bệch tại chỗ, nắm tay ta xả nước lạnh.

“Nàng chậm một chút.” Chàng thấp giọng nói. “Cửa hàng không vội.”

Ta thấy chàng gấp đến mức cầm lệch cả gáo nước, cười nói: “Lại không phải vết dao, mai là khỏi.”

Cố Hành Chu không nói gì, nhưng tối đến lại mua một hũ thuốc bỏng từ tiệm thuốc về, nhìn chằm chằm ta bôi xong mới chịu ngủ.

Có lúc chàng rất dính người. Trước khi ra ngoài sẽ hỏi ta đi đâu, về nhà muộn một chút, chàng liền chống gậy đứng ở đầu ngõ chờ. Khi hỏi còn phải vòng vo, sợ ta thấy chàng phiền.

“Thanh La, ngày mai ta đến phủ Lư tiên sinh, giữa trưa không về kịp. Nếu nàng đi mua rau, để A Thuận đi cùng.”

“Thanh La, đêm nay có mưa, then gỗ cửa sau ta đã sửa rồi, nàng nhớ đừng mở cửa cho người lạ.”

“Thanh La, Lục Hoài An… hắn có lại đến không?”

Ta đang cắt củ cải, nghe vậy cố ý kéo dài giọng: “Hắn đến hay không thì liên quan gì đến ta?”

Sắc mặt Cố Hành Chu dễ nhìn hơn một chút, rồi vội cúi đầu thêm củi.

Ban đầu Lư tiên sinh không chịu nhận chàng.

Hôm ấy Cố Hành Chu từ phủ Lư trở về, cả người ướt đẫm, gậy chống toàn là bùn. Chàng ngồi dưới mái hiên, hồi lâu không động.

Ta vừa nhìn đã biết xảy ra chuyện, trước tiên kéo chàng vào nhà thay y phục.

Sau khi thay xong, chàng vẫn không chịu nhìn ta, chỉ nói Lư tiên sinh cảm thấy xuất thân của chàng có trở ngại, sợ nhận chàng làm học trò sẽ rước lấy phiền phức.

“Ông ấy nói Lục Hoài An đã bái vào môn hạ của ông ấy. Thế lực phủ Quốc công lớn, ông ấy không muốn hai bên khó xử.”

Chàng nói đến đây thì dừng lại, ngón tay siết chặt đai áo.

Ta nhét một bát mì cá viên nóng hổi vào tay chàng.

“Chàng ăn bát mì này trước đã, bụng rỗng nghĩ chuyện chỉ càng nghĩ càng tệ.”

“Bây giờ ta không có khẩu vị, ăn vào cũng không nếm ra mùi vị.”

“Vậy cũng phải ăn. Khi con người đói, rất dễ cảm thấy trời sập xuống, ăn no rồi lại nghĩ cách.”

Cố Hành Chu ngẩng đầu nhìn ta.

Ta ngồi xuống đối diện chàng, chậm rãi nói: “Lư tiên sinh sợ phủ Quốc công tìm phiền phức, nên mới nói khó nghe như vậy. Văn chương của chàng có tốt hay không, khảo quan trong cống viện nhìn rõ. Ngày mai ta đến cổng Quốc Tử Giám bày sạp, ai chịu xem văn chương của chàng, ta sẽ mời người đó ăn một bát mì.”

Chàng bị ta nói đến ngẩn ra, nước mắt vậy mà rơi vào bát mì.

Ta vội dời bát ra: “Người này sao mà giỏi khóc thế. Cá viên là ta đánh từ sáng sớm, mặn thì chàng chịu trách nhiệm ăn hết.”

Cố Hành Chu cúi đầu, vai khẽ run một chút.

Ta tưởng chàng vẫn đang buồn, đang định dỗ dành, mới phát hiện chàng đang cười.

Ngày hôm sau, ta thật sự dựng sạp ngoài Quốc Tử Giám.

Trên bảng viết: Xem một thiên văn, tặng một bát mì cá viên.

Người đầu tiên đến là một thiếu niên mặc áo xanh, họ Tống, tên Tống Minh Tung. Hắn ôm bát, vừa ăn vừa xem sách luận của Cố Hành Chu, ăn đến cuối cùng ngay cả nước canh cũng không còn, vỗ đùi nói văn chương hay.