“Hắn viết cho ngươi sao?”

Ta lắc đầu:

“Không.”

“Vậy còn xem gì? Tốn mắt.”

Ta vẫn mở thư.

Trong thư, Bùi Cảnh oán trách Bắc Cảnh lạnh, đồ ăn khó nuốt, người trong quân doanh không xem hắn là thế tử.

Dòng cuối viết:

“Hôm nay có người hỏi con năm đó A Từ ở trong am có lạnh như vậy không. Con không trả lời được.”

Ta gấp thư lại.

Tiểu Mãn hỏi:

“Viết gì?”

“Hắn nói lạnh.”

“Đáng đời.”

Hứa nữ quan nói:

“Biết lạnh mới hiểu người khác cũng biết lạnh.”

Phong thư thứ hai đến sau ba tháng.

Hắn viết lúc chuyển lương bị ngã, bàn tay trầy đến chảy máu, không có ai dỗ dành.

Lại viết trong quân có một tiểu binh nhỏ hơn hắn hai tuổi, vì phụ huynh đều chết trên con đường buôn muối lậu phía sau lò gốm đen nên hận hắn mang họ Tạ.

Tiểu binh hất đổ cơm của hắn. Hắn muốn đánh người, nhưng cuối cùng không đánh.

Cuối thư viết:

“Trước kia lúc con giẫm lên tay A Từ, có phải nó cũng muốn đánh con không?”

Ta xem xong, không hồi âm.

Phong thư thứ ba đến sau một năm.

Bùi Cảnh nói hắn theo quân đội hộ tống những nữ tử được cứu trở về quê. Có một đứa trẻ luôn khóc, hắn thấy phiền, muốn mắng, nhưng bỗng nhớ không biết khi ở trong xe ngựa ta có từng khóc hay không.

Hắn viết:

“Con không nhớ khi ấy nó có khóc hay không. Nương, có phải con rất xấu xa không?”

Nương đặt lá thư này dưới gối rất lâu.

Khi đến Thọ Khang cung, nàng hỏi ta:

“Con có muốn hồi âm cho nó một câu không?”

Ta nói:

“Không.”

Nàng gật đầu:

“Được.”

Nàng không khuyên nữa.

Hai năm sau, ta tròn mười tuổi.

Thái hậu bảo lão tướng quân chọn họ cho ta.

Lão tướng quân hỏi:

“Họ Bùi hay họ Lâm?”

Nương đứng bên cạnh, ngón tay siết khăn.

Ta nói:

“Họ Lâm.”

Lão tướng quân cười:

“Được. Lâm A Từ.”

Trong mắt nương có mất mát, nhưng nàng không khóc lóc cầu xin ta.

Nàng nói:

“Họ này rất hay.”

Thái hậu sai người ghi tên ta vào gia phả của Trung Nghĩa từ, lại để Hứa nữ quan tiếp tục dạy ta đọc sách.

Ta dần hiểu trên đời không chỉ có hầu phủ và am ni.

Còn có luật pháp, chiến trường, sổ sách, có rất nhiều nỗi khổ bị che giấu, cũng có rất nhiều người bằng lòng đào chúng ra ánh sáng.

Năm ta mười ba tuổi, Thái hậu bị bệnh một trận.

Người nắm tay ta nói:

“A Từ, ai gia già rồi, không thể che chở con cả đời.”

Trong lòng ta hoảng sợ.

Người cười, vỗ tay ta:

“Sợ gì? Thứ ai gia để lại cho con không phải vàng bạc, mà là bản lĩnh giúp con đứng vững.”

Người bảo Hứa nữ quan đưa ta đến nữ học dự thính, bảo lão tướng quân dạy ta phân biệt quân báo, bảo Thẩm đại phu dạy ta nhận dược liệu.

Tiểu Mãn cũng học theo.

Mỗi khi học thuốc, nàng luôn nhận sai các loại rễ cỏ, Thẩm đại phu phạt nàng chép tên.

Tiểu Mãn tức giận nói:

“Sau này ta không làm đại phu.”

Thẩm đại phu hỏi:

“Vậy ngươi làm gì?”

“Làm quản sự. Ai bắt nạt A Từ, ta sẽ ghi sổ, từng khoản từng khoản đòi lại.”

Thẩm đại phu nói:

“Vậy càng phải biết chữ.”

Tiểu Mãn nhăn mặt tiếp tục chép.

Thái hậu nghe chuyện, cười đến ho suốt nửa ngày.

Những năm ấy, nương vẫn luôn ở viện an trí.

Nàng cứu được ngày càng nhiều nữ tử. Có người học thêu thùa, có người học làm điểm tâm, có người vào nữ học giúp việc.

Có người hỏi nàng mưu cầu điều gì.

Nàng nói:

“Trả nợ.”

Nhưng nợ không phải nói trả là có thể trả hết.

Ngày sinh thần năm ta mười lăm tuổi, nàng tặng ta một chiếc áo choàng tự tay may.

Đường kim rất nhỏ, nơi cổ tay áo thêu một hoa văn mảnh sứ.

“A Từ, sinh thần an khang.”

Ta nhận lấy.

Mắt nàng sáng lên.

Ta nói:

“Đa tạ quận chúa.”

Ánh sáng ấy lại nhạt đi, nhưng nàng vẫn cười:

“Con thích là được.”

Tiểu Mãn đứng bên cạnh thở dài:

“Hai người nói chuyện thật mệt.”

Nương nhìn nàng, vậy mà cũng bật cười.

“Là ta đáng đời.”

Ta khoác áo choàng, kích thước vừa vặn.

Đêm hôm ấy, ta nằm mơ.

Trong mộng, lửa ở lò gốm đen không còn đuổi theo ta.

Ta nhìn thấy bóng lưng cha.

Cha đứng ở một nơi rất sáng, trên y phục không có máu, trong tay cầm mảnh sứ, cười hỏi ta:

“A Từ, có lạnh không?”

Ta lắc đầu.

Cha lại hỏi:

“Có đau không?”

Ta nghĩ một lát rồi nói:

“Trước kia đau, bây giờ vẫn có lúc đau, nhưng đã có người bôi thuốc cho con.”

Cha gật đầu, đặt mảnh sứ trở lại lòng bàn tay ta.

“Vậy là tốt. Cứ bước về phía trước, đừng luôn ngoảnh đầu nhìn ngọn lửa.”

Khi tỉnh dậy, bên ngoài cửa sổ vừa hửng sáng.

Tiểu Mãn gục ngủ bên bàn, trong tay vẫn nắm tờ giấy ghi danh sách lễ vật sinh thần cho ta tối qua. Sách Hứa nữ quan tặng đặt bên gối, ngọc bội Thái hậu ban treo đầu giường, áo choàng vắt trên lưng ghế, hoa văn mảnh sứ ở cổ tay áo được ánh bình minh chiếu lên vô cùng dịu dàng.

Ta đứng dậy đi đến Thọ Khang cung.

Thái hậu đã tỉnh, đang tựa trên giường uống thuốc. Nhìn thấy ta, người cố ý cau mày:

“Ngày thứ hai sau sinh thần đã đến thỉnh an, không chê quy củ nhiều sao?”

Ta quỳ xuống dập đầu với người.

“Ngoại tổ mẫu, con muốn đến Trung Nghĩa từ.”

Thái hậu nhìn ta một lát rồi cười:

“Đi đi. Mang theo con đường của chính mình.”

Hôm ấy, lão tướng quân, Tiểu Mãn, Thẩm đại phu và Hứa nữ quan đều đi cùng ta.

Nương cũng chờ ngoài từ đường. Nàng không bước tới, chỉ giao một giỏ bánh mới làm cho Tiểu Mãn.