Khi cha tôi còn sống, ông từng đi lính, còn là thợ săn giỏi nhất vùng. Ông đã dạy tôi cách bắn súng cao su (ná bắn đá).

Ông bảo: “Tú Anh à, mắt sáng là trời phú, cha cũng không bằng con đâu.”

Sau này ông mất, những lúc nhớ ông, tôi lại mang súng cao su ra bắn vài con sẻ mang về hầm canh uống.

Tôi đưa mắt quét xuống đất, thấy cạnh bàn chân có một viên đá nhỏ, tròn trịa, rất vừa tay.

Tôi cúi người nhặt lên, rồi rút chiếc súng cao su từ trong túi ra.

Chiếc súng này là di vật cha để lại cho tôi, tay cầm bằng gỗ được mài đến bóng loáng, dây thun đã thay mấy lần, tôi lúc nào cũng mang theo bên người.

Đại đội trưởng vừa định bước ra sân tập thì khựng lại.

Anh ta thấy tôi rút súng cao su, thấy tôi nheo mắt, thấy tôi giơ tay lên.

Con chim sẻ đã bay ra xa khoảng sáu bảy mươi mét, sắp bay đến tận phía bên kia sân tập.

Tôi kéo căng dây súng, ngắm nghía, rồi “Vút” một tiếng, viên đá bay đi.

Con sẻ rơi cắm đầu xuống, nằm ngay chính giữa sân tập.

Mấy người lính trên sân giật mình, xúm lại xem.

Tôi bước tới, nhặt con sẻ lên, đi ngược về phía chiếc bàn rồi đặt nó lên mặt bàn.

Đại đội trưởng cúi đầu nhìn con sẻ, rồi lại ngẩng lên nhìn tôi.

Trên đầu con sẻ có một lỗ nhỏ, máu đang rỉ ra. Một phát trúng đích.

Anh ta hỏi: “Cô biết dùng súng cao su à?”

Tôi đáp: “Vâng.”

Anh ta im lặng, dán mắt vào con sẻ hồi lâu.

Cậu lính trẻ bên cạnh há hốc mồm, mãi mới thốt lên: “Đại đội trưởng, cái này… cái này còn chuẩn hơn cả súng của chúng ta nữa.”

Đại đội trưởng lườm cậu ta một cái, lại nhìn tôi: “Cô tên gì?”

“Tôn Tú Anh.”

“Người ở đâu?”

“Thôn Thanh Thạch Oa.”

Anh ta gật đầu, ngồi xuống, rút một tờ đơn từ trên bàn ra.

“Tại sao muốn đi lính?”

Tôi nói: “Để bảo vệ tổ quốc.”

Anh ta ngước mắt nhìn tôi, ánh mắt có chút kỳ lạ. Cậu lính trẻ bên cạnh thì che miệng cười trộm.

Tôi biết họ cười gì. Một đứa con gái nông thôn mà nói chuyện bảo vệ tổ quốc nghe chừng có vẻ hơi kỳ cục.

Nhưng tôi không nói dối.

Cha tôi từng là lính, ông từng lập công, sau này bị thương nên phục viên về làm ruộng. Ông thường bảo tôi rằng, người đi lính thì phải có lòng bảo vệ tổ quốc. Sau khi ông mất, lời này tôi luôn ghi tạc trong lòng.

Đại đội trưởng nhìn tôi một lúc, rồi lại nhìn con chim sẻ.

Anh ta đẩy tờ đơn về phía tôi: “Điền vào đi. Ba tháng tân binh, trụ lại được thì ở lại, không trụ được thì từ đâu về đấy.”

Tôi không biết mấy chữ, anh ta bảo cậu lính trẻ dạy tôi viết từng nét một.

Đến cột “Sở trường”, tôi suy nghĩ một chút, không biết nên viết gì.

Đại đội trưởng nói: “Cứ viết là: Thiên phú bắn súng nổi bật, trong vòng trăm mét, dùng súng cao su bắn chim.”

Cậu lính trẻ vừa cười vừa viết vào.

Lúc chuẩn bị đi, đại đội trưởng gọi tôi lại.

“Tôn Tú Anh,” anh ta nói, “Quân đội không phải trạm cứu trợ, cũng không nuôi kẻ rảnh rỗi. Vào đó rồi, cô phải dựa vào bản lĩnh thật sự. Kỹ năng bắn súng cao su đó chỉ là tấm vé thông hành thôi. Sau này đi tiếp thế nào, phải xem vào bản thân cô.”

Tôi nói: “Tôi biết rồi.”

Anh ta gật đầu, vẫy tay cho tôi đi.

Bước ra khỏi Ban Chỉ huy Quân sự, trời đã gần tối.

Tôi ch/ ô/ n con chim sẻ dưới một gốc cây lớn, lạy nó một lạy, rồi nhìn lên bầu trời.

“Cha ơi, con gái đã được đi lính rồi.”

Chương 3

Đại đội tân binh ở gần tỉnh thành, đi xe tải lớn mất bốn tiếng đồng hồ.

Khi đến nơi, trời đã tối, trên sân treo đèn lớn, chiếu sáng như ban ngày.

Một hàng nữ binh đứng ở đó, mặc cùng một kiểu quân phục, thắt cùng một kiểu thắt lưng, tóc tết cuộn gọn trong mũ.

Khi tôi xuống xe, tất cả họ đều quay đầu nhìn tôi.

Tôi mặc bộ áo xám của mình, đeo một bọc vải, đứng giữa một đám quân phục xanh, giống như một ngọn cỏ dại.

Người dẫn đội là một nữ tiểu đội trưởng, hơn hai mươi tuổi, mặt tròn tròn, trông hiền lành.

Cô ấy dẫn tôi vào ký túc xá, chỉ vào một chiếc giường tầng:

“Cô ngủ giường dưới, giường trên là Vương Mai, cô ấy ra ngoài lấy nước rồi.”

Tôi đặt bọc đồ xuống, ngồi ở mép giường.

Ván giường cứng đơ, trải một lớp đệm mỏng, chăn quân đội màu xanh gấp ngay ngắn đặt ở đầu giường.

Trên tường dán một tờ giấy, ghi thời gian biểu sinh hoạt.

Năm giờ thức dậy, năm giờ rưỡi tập thể dục buổi sáng, sáu giờ bốn mươi ăn sáng…

Tôi đang nhìn, cửa mở ra.

Một cô gái bước vào, trạc tuổi tôi, bưng một chậu nước nóng, nhìn thấy tôi liền cười:

“Người mới à? Tôi là Vương Mai, còn cô?”

“Tú Anh.”

“Từ đâu tới?”

“Thôn Thanh Thạch Oa.”

Cô ấy đặt chậu xuống, ghé lại gần, nhỏ giọng nói:

“Tôi nghe liên trưởng gọi điện rồi, nói cô bắn ná rất chuẩn, bảy tám chục mét bắn chim sẻ, một viên trúng một con?”

Tôi nói:

“Chỉ là trùng hợp thôi.”

Cô ấy “phụt” một tiếng cười: