“Tôi muốn kiện dì.”

Trong bữa tiệc gia đình nhà họ Giang, tôi sáu tuổi, cầm thìa nói với mẹ kế.

Bác cả trêu: “Nhà họ Giang ba đời làm luật sư, đến đứa trẻ sáu tuổi cũng mắc bệnh nghề nghiệp rồi.”

Chỉ mình tôi biết tôi không nói đùa.

Tôi không thích nói chuyện, nhưng trí nhớ khác hẳn người thường.

Ngày mẹ kế mới cưới về, trước mặt mọi người, bà ta khen tôi ngoan.

“Từ Từ thật hiểu chuyện, dì cho con kẹo nhé.”

Nhưng khi chặn tôi ngoài hành lang, bà ta giật viên kẹo rồi ném xuống đất:

“Đồ ngốc như mày mà cũng xứng ăn kẹo à? Ai sẽ tin một đứa ngốc không biết nói chứ?”

Quả thật tôi không giỏi diễn đạt.

Nhưng sau bữa tối hôm ấy, bố hỏi hôm nay tôi có vui không.

Tôi giơ bàn tay nhỏ đỏ bừng lên, dùng giọng non nớt báo cáo:

“Thẩm phán bố, con muốn khởi kiện.”

“Bị cáo là dì xấu xa, dì ấy đã sát hại viên kẹo sữa Thỏ Trắng của con, bị tình nghi phạm… tội cướp tài sản!”

“Nhân chứng là Từ Từ, vật chứng… vật chứng là viên kẹo, Từ Từ xin… xin cấm dì ấy vĩnh viễn không được đến nhà con!”

Tôi cố nén những giọt nước mắt không cho rơi xuống, bởi vì luật sư nhỏ của nhà họ Giang không thể khóc trước tòa.

Cả người bố đang ôm tôi cứng đờ.

Cùng lúc đó, ở phía đối diện bàn ăn, năm người bác, chú quyền lực trong giới luật pháp đồng loạt đặt đũa xuống.

……

Từ khi mẹ kế Tống Uyển Ninh đến nhà họ Giang, tôi đã trở thành một đứa trẻ câm không thích nói chuyện.

Mọi người đều nghĩ tôi bị bệnh.

Thật ra, tôi chỉ đang âm thầm tích góp cho bà ta một bộ hồ sơ đủ để kết án tử hình.

Chiều hôm đó.

Bà ta lấy lý do rửa tay, véo tay tôi đến rướm máu.

Bác cả là người lên tiếng đầu tiên.

“Từ Từ, đưa tay cho bác cả xem nào.”

Tôi xòe lòng bàn tay ra.

Ba vết đỏ ở sát gốc ngón tay đã chuyển sang tím bầm.

Sắc mặt bố thay đổi.

Bố quay sang nhìn Tống Uyển Ninh.

Hốc mắt Tống Uyển Ninh đỏ lên.

“Từ Từ… có phải Từ Từ không thích em không?”

Giọng bà ta run rẩy, trông còn tủi thân hơn cả tôi.

“Hôm nay em chỉ giúp con bé lau tay, nó tránh em, em sợ nó ngã nên mới giữ lại một chút…”

Bà ta nhìn bố, nước mắt rơi xuống.

“Diễn Chu, em biết Từ Từ vẫn chưa chấp nhận em, em không trách con bé, là em không tốt.”

Bố ôm tôi, cau mày.

Bố cúi đầu dỗ dành tôi: “Từ Từ, có phải lúc dì lau tay cho con đã vô tình làm con đau không?”

Tôi lắc đầu.

“Không phải lau tay.”

Tôi nhìn vào mắt Tống Uyển Ninh, nói từng chữ một.

“Dì ấy nói nếu con còn dám mách bố, lần sau sẽ không phải là tay nữa.”

Biểu cảm trên mặt Tống Uyển Ninh cứng lại.

Sau đó bà ta càng khóc lớn hơn.

“Sao Từ Từ có thể nói như vậy? Em chưa từng làm thế, Diễn Chu, anh phải tin em, em đối xử với con bé như con gái ruột của mình!”

Bà ta khóc đến nhòe đường kẻ mắt, dáng vẻ lấy khăn giấy lau mặt khiến người ta có cảm giác bà ta mới là người bị bắt nạt.

Bố im lặng vài giây.

Bố quay sang nói với các bác, các chú: “Có lẽ là hiểu lầm, Uyển Ninh không phải loại người đó.”

Không phải loại người đó.

Bố đã nói câu này rất nhiều lần.

Lần bà ta đẩy tôi ở cầu thang, bố nói “Uyển Ninh không phải loại người đó”.

Lần bà ta ném quyển vở vẽ của tôi vào thùng rác, bố nói “Uyển Ninh không cố ý”.

Bác cả nhìn bố.

Bác không nói gì.

Nhưng tôi nhận ra ánh mắt ấy, đó là ánh mắt bác cả dùng để nhìn bị cáo trên tòa.

Chú Năm ngồi xổm trước mặt tôi, hạ giọng thật thấp hỏi: “Từ Từ, chuyện như thế này có phải lần đầu không?”

Tôi lắc đầu.

Tống Uyển Ninh lập tức chen vào: “Từ nhỏ Từ Từ đã không thích em chạm vào nó, đôi khi nó va chỗ này, đập chỗ kia cũng nói là do em…”

Bà ta vừa nói vừa nhìn bố.

Bố không nhìn bà ta.

Sau bữa cơm.

Ông nội không nói gì, đặt đũa xuống rồi đi thẳng vào phòng làm việc.

Năm người bác, chú cũng đi theo.

Cửa đóng lại.

Tôi không biết họ đã nói gì.

Nhưng sau này chú Năm kể với tôi, hôm ấy ông nội chỉ nói một câu.

“Điều tra cho rõ. Trước khi tôi lên tiếng, không ai được đánh r草 động rắn.”

Đêm khuya.

Tôi mang đôi dép vịt con, vừa trèo lên giường.

Tôi lấy quyển sổ màu hồng từ dưới gối ra.

Đây là quyển sổ mẹ từng mua cho tôi, trên bìa có một chú thỏ.

Tôi lật sang trang mới, dùng bút sáp màu đỏ vẽ một khuôn mặt khóc.

Còn có ba chữ.

“Không tin con.”

Tôi nhét quyển sổ trở lại dưới gối rồi cuộn mình trong chăn.

Tôi không khóc.

Luật sư nhỏ của nhà họ Giang không thể khóc.

Tống Uyển Ninh mang một cốc sữa nóng vào phòng tôi.

Bà ta cười rất dịu dàng, nhưng cửa vừa đóng lại, nụ cười đã biến mất.

Bà ta cúi xuống sát tai tôi: “Đồ con hoang, lần sau khôn ngoan một chút, bố mày chỉ tin tao thôi.”

Tôi không tránh.

Tôi nhìn bà ta chằm chằm.

Trong góc phòng có camera, bà ta không dám ra tay quá nặng.

Chờ bà ta đóng sầm cửa đi ra ngoài.

Tôi lật gối lên, lấy quyển sổ màu hồng ra.

Tôi lấy cây bút sáp màu đỏ.

Từng nét một, tôi vẽ lại động tác bà ta vừa véo tôi.

Sau đó ghi thời gian bên cạnh:

Ngày 14 tháng 9, 11 giờ đêm, đe dọa thân thể.

Tôi không nói.

Bởi vì mẹ từng nói, trên tòa, lời khai là bằng chứng yếu nhất.

Chương 2:

Sáng hôm sau, Tống Uyển Ninh làm bữa sáng trong bếp.

Bà ta mặc tạp dề, tóc buộc thấp sau gáy, trông rất dịu dàng.

“Tối qua Từ Từ ngủ có ngon không?” Bà ta mỉm cười hỏi tôi.

Giống như hôm qua chưa từng xảy ra chuyện gì.

Trước khi ra ngoài, bố hôn lên trán tôi.

“Từ Từ ngoan, ở nhà nghe lời dì nhé.”

Tôi níu góc áo bố không chịu buông.

Bố tưởng tôi đang làm nũng, mỉm cười gỡ từng ngón tay của tôi ra.

“Tối bố sẽ về.”

Cửa đóng lại.

Sau đó nụ cười trên mặt Tống Uyển Ninh biến mất.

Giống như một ngọn đèn vừa bị tắt.

Bà ta nhấc cặp sách của tôi khỏi ghế rồi ném xuống đất.

“Những lời hôm qua là ai dạy mày nói? Mấy người bác, chú của mày à?”

“Không ai dạy cả.”

Bà ta ngồi xổm xuống.

Tay bóp lấy cằm tôi.

“Mày nhớ cho kỹ, sau này nhà này do tao quyết định. Con mẹ đã chết của mày không giúp được mày, mấy người bác, chú của mày cũng không giúp được mày.”

“Bố mày tin tao, không tin mày.”

Cằm tôi rất đau.

Tôi nhìn chằm chằm vào mắt bà ta, trong lòng lặp lại từng chữ bà ta vừa nói.

Trong hai tuần tiếp theo, bà ta càng lúc càng quá đáng.

Nhưng bà ta cũng trở nên thông minh hơn.

Bà ta biết trong nhà chỗ nào có camera, mỗi lần đều đưa tôi đến góc khuất.

Hôm ấy, bà ta đun nước sôi, cầm cốc đi về phía tôi rồi cố tình va vào người tôi.

Nước nóng bỏng dội lên cổ tay tôi.

Đau lắm, đau lắm.

Bà ta lập tức ném cốc xuống, kéo tay tôi đến dưới vòi nước xả nước lạnh, đồng thời dùng một tay giơ điện thoại lên chụp ảnh.

“Gửi cho bố mày xem tao xót mày đến mức nào.” Bà ta cười lạnh.

Tôi nghiến chặt hàm răng nhỏ, cố nén nước mắt trở lại.

Bàn tay nhỏ thò vào túi áo.

Tôi ấn vào chiếc bút ghi âm “Thẩm phán Gấu Lớn” chú Năm tặng.

Chỉ cần ấn vào bụng Gấu Lớn một cái là nó sẽ ghi âm.

Tôi ngẩng đầu, dùng giọng lớn nhất hét lên:

“Dì xấu xa! Dì đừng lấy nước nóng hắt vào con nữa! Từ Từ đau lắm!”

Tống Uyển Ninh giật mình: “Mày gào bậy bạ gì thế!”

Tống Uyển Ninh tức tối bịt miệng tôi, nhưng tôi biết Thẩm phán Gấu Lớn đã nghe thấy tất cả.

Mỗi tối, đợi đến khi bà ta không vào phòng tôi nữa, tôi lại lấy quyển sổ màu hồng từ dưới gối ra.

Tôi không biết viết nhiều, rất nhiều chữ vẫn chưa nhận ra.

Nhưng tôi biết vẽ.

Nhân vật là những hình người que.

Người cao là bà ta, người thấp là tôi.

Thời gian được viết bằng những con số xiêu xiêu vẹo vẹo.

Mỗi trang đều có địa điểm — “góc phòng làm việc”, “chỗ rẽ cầu thang”, “nhà bếp không có thứ đó”.

Tôi đã đếm riêng, trong nhà có bảy chiếc camera.

Mỗi lần đánh tôi, bà ta đều chọn chỗ không có camera.

Bà ta biết chỗ nào có, chỗ nào không.

Cuối tuần, chú Năm đến nhà thăm tôi.

Tôi kéo chú vào phòng chơi “trò chơi phiên tòa”.

Trò chơi này do chú Năm dạy tôi.

Chú làm thẩm phán, tôi làm luật sư.

Tôi bày các con thú bông ra.

Thỏ Con ngồi ở ghế nguyên đơn, Gấu Lớn ngồi ở ghế bị cáo.

Tôi đội chiếc mũ giấy lên đầu Thẩm phán Gấu Lớn.

Tôi khoanh đôi chân ngắn ngồi dưới đất, mở quyển sổ màu hồng ra.

Tôi chỉ từng trang cho chú xem.

Sau đó tôi nói: “Gấu Lớn không thừa nhận. Vì không có bằng chứng.”

Nụ cười của chú Năm dừng lại.

Chú giả vờ thoải mái hỏi: “Vậy phải làm sao đây?”

Tôi duỗi ngón tay ngắn mũm mĩm, chọc vào quyển sổ.

“Chú Năm, trên tòa phải ghi chép hồ sơ vụ án. Những thứ Từ Từ ghi được gọi là chuỗi bằng chứng.”

Chú Năm nhận lấy quyển sổ.

Chú lật trang đầu tiên, không nói gì.

Lật sang trang thứ hai, tay chú bắt đầu run.

Trang thứ ba, một người que lớn đổ nước lên tay người que nhỏ, bên cạnh vẽ một mặt trời tượng trưng cho “nóng”.

Chú gấp quyển sổ lại.

Tôi cảm nhận được tay chú đang run.

“Từ Từ, cho chú Năm mượn quyển sổ này hai ngày được không?”

Tôi suy nghĩ.

“Chú phải trả con.”

“Đó là bằng chứng của Từ Từ.”

Tối hôm ấy, tôi không biết chú Năm đã gửi gì vào nhóm gia đình.

Nhưng sau này chú Năm kể với tôi rằng chú đã gửi một câu.

“Từ Từ mới sáu tuổi đã dùng tranh để ghi lại chuỗi bằng chứng mình bị ngược đãi. Nhà họ Giang chúng ta đã sa sút đến mức phải để một đứa trẻ sáu tuổi tự bảo toàn bằng chứng từ bao giờ vậy?”

Trong nhóm im lặng suốt ba phút.

Bác cả trả lời ba chữ: “Họp. Ngày mai.”

Chương 3:

Tôi không biết chuyện các bác, các chú mở cuộc họp.

Tôi chỉ biết vào thứ Hai tuần đó, ánh mắt Tống Uyển Ninh nhìn tôi đã thay đổi.

Bà ta bắt đầu đối xử “đặc biệt tốt” với tôi trước mặt bố.

Xoa đầu tôi, gắp thức ăn cho tôi, giúp tôi tết tóc.

Bố vui không chịu nổi: “Con xem, Uyển Ninh thích con biết bao.”

Nhưng khi bố không có mặt, bà ta còn độc ác hơn trước.

Chiều thứ Tư, bố gửi một tin nhắn vào nhóm gia đình.

Khi ấy tôi không biết chuyện này, sau đó chú Năm kể lại cho tôi.

Bố nói: “Uyển Ninh bảo gần đây cảm xúc của Từ Từ không ổn định, luôn vô duyên vô cớ khóc. Cô ấy đề nghị đưa Từ Từ đến khoa tâm lý trẻ em, con thấy cũng có lý.”

Chú Năm nói lúc nhìn thấy tin nhắn này, chú đã siết chặt nắm đấm.

Tôi hiểu ra.

“Vấn đề tâm lý”.

Chỉ cần tôi bị gắn bốn chữ “vấn đề tâm lý”, sau này mọi lời tôi nói đều không còn giá trị.

Tối hôm đó, Tống Uyển Ninh gửi một đoạn video vào nhóm gia đình.

Trong video, tôi ngồi dưới sàn phòng khách hét lên.

Bà ta ngồi xổm bên cạnh, dịu giọng dỗ dành tôi.

Dòng chú thích viết: “Từ Từ lại nổi cáu rồi, tôi thật sự rất lo cho con bé.”

Trong video, trông bà ta rất bất lực, rất nhân từ.

Nhưng không ai nhìn thấy chuyện xảy ra trước khi đoạn video ấy được quay.

Bà ta đã nhốt tôi trong phòng chứa đồ.

Nhốt gần hai mươi phút.

Bên trong rất tối, không có cửa sổ.

Tôi không sợ bóng tối, nhưng tôi sợ bị nhốt.

Bởi vì ngày mẹ qua đời, người ta đã nhốt tôi bên ngoài phòng bệnh, không cho tôi vào.

Tôi đã hét: “Đừng đóng cửa! Đừng đóng cửa!”

Không phải tôi nổi cáu.

Mà là tôi sợ hãi.

Đoạn video ấy khiến bà ta trông giống người tốt, còn tôi là một đứa trẻ hư.

Ba ngày sau, bà ta đưa tôi đi khám bác sĩ tâm lý.

Trong suốt quá trình, bà ta ngồi bên cạnh để “bổ sung thông tin”.

“Từ Từ không thích chơi với bạn đồng trang lứa.”

“Thường xuyên tự lẩm bẩm một mình.”

“Có hành vi tấn công tôi.”

Bà ta nói một câu, bác sĩ lại ghi một câu vào sổ.

Tôi ngồi trên chiếc ghế rộng, hai chân ngắn lơ lửng giữa không trung.

Bác sĩ đưa ra kết luận: “Nghi mắc chứng rối loạn thích nghi.”

Tôi không nói gì.

Không phải tôi bị bệnh.