“Chị.” Lâm Tử Hào gọi nhỏ một tiếng, rồi chạy tót vào nhà, moi từ dưới gối ra một viên kẹo nhét vào tay tôi, “Cho chị ăn này.”
Đó là một viên kẹo sữa, vỏ bọc nhăn nhúm, chắc là báu vật cậu bé đã giấu từ rất lâu.
Tôi cầm lấy viên kẹo, đó là lần đầu tiên tôi mỉm cười kể từ khi đến nhà bác.
Từ đó, tôi ở nhà bác trai suốt 5 năm.
Nhà bác rất nghèo, bác trai làm ở lò gạch gần đó, một tháng chỉ kiếm được ngót nghét một ngàn tệ. Bác gái ở nhà làm ruộng, nuôi gà nuôi lợn. Vốn dĩ nhà đã túng thiếu, thêm tôi thành ra thêm một miệng ăn, lại càng chật vật hơn.
Nhưng hai bác chưa từng để tôi phải chịu đói.
Tôi nhớ có một mùa đông, đế đôi giày bông của tôi bị bong ra, ngón chân thò cả ra ngoài lạnh cóng. Bác trai thấy thế không nói không rằng, đạp chiếc xe cọc cạch lên trấn mua cho tôi một đôi mới. Đôi giày đó giá 80 tệ, bằng tiền công mấy ngày liền của bác.
Bác gái thì luôn sợ tôi đang tuổi lớn ăn không đủ no, mỗi lần nhà thịt gà, bác đều hầm riêng cho tôi một nồi súp nhỏ. Trong bát của bác hầu như chẳng bao giờ có thịt, bác luôn cười bảo “Bác không thèm cái này”, rồi gắp cái đùi gà to nhất vào bát tôi.
Lâm Tử Hào tuy nhỏ hơn tôi vài tuổi nhưng lại chững chạc hơn bọn trẻ cùng trang lứa rất nhiều. Biết nhà chật vật, em không bao giờ mở miệng đòi hỏi mua đồ linh tinh. Mỗi lần hai chị em chia đồ ăn vặt, em luôn đẩy phần nhiều hơn về phía tôi: “Chị ăn đi, em không thích ăn đồ ngọt.”
Trong làng có mấy đứa trẻ không ưa đứa từ nơi khác về như tôi, cứ thẳng mặt gọi tôi là “Đứa con hoang không có bố mẹ”. Lâm Tử Hào biết rõ không đánh lại bọn trẻ lớn hơn, nhưng lần nào cũng xông thẳng lên, chắn trước mặt để chịu đòn thay tôi.
Có lần em bị đánh chảy máu mũi không cầm được, tôi ôm em khóc nức nở, em lại nhe răng cười với tôi: “Chị ơi, không đau thật mà, chị đừng khóc, lát nữa là khỏi thôi.”
Những năm tháng đó, trong lòng tôi, gia đình bác trai chính là nhà của tôi.
Năm tôi 12 tuổi, công việc của mẹ ở xưởng tại Quảng Châu đã quen việc, mọi thứ ổn định lại, mẹ đón tôi lên thành phố học cấp hai. Ngày tôi đi, bác gái nhét vào tay tôi một cái bọc vải cũ, bên trong là 500 tệ nhăn nhúm xếp chồng lên nhau.
“Tình Tình, đây là tiền bác gái chắt bóp từng chút một, cháu cầm lên thành phố thèm gì thì mua ăn, đừng để bản thân chịu thiệt thòi ở trường.”
Tôi biết rõ 500 tệ này là tiền bán trứng bác gái tiết kiệm suốt cả năm trời nên chết sống không nhận, nhưng bác cứ cố nhét vào balo của tôi, viền mắt đỏ hoe.
“Tình Tình, cháu phải ráng học cho giỏi, sau này thi đỗ đại học, làm người có ích, trong lòng nhớ đến bác trai bác gái là được rồi.”
Lâm Tử Hào đứng ngoài cổng viện, cứ đứng chết trân ở đó, nhìn tôi lên chiếc xe khách đường dài từ thị trấn lên Quảng Châu. Xe đi được một quãng xa, tôi ngoái đầu lại, em vẫn đứng nguyên chỗ cũ ra sức vẫy tay chào tôi.
Sau này, tôi học xong cấp hai rồi đỗ vào trường cấp ba trọng điểm của thành phố, tiếp đó là học đại học, học thạc sĩ, tìm được việc làm, con đường đi khá suôn sẻ. Mỗi lần tôi về quê, hai bác nhìn thấy tôi, trên mặt không giấu nổi vẻ tự hào.
Bác trai luôn thích lẩm bẩm với họ hàng: “Tình Tình nhà mình có tiền đồ lớn, ở cái làng mình cũng gọi là nở mày nở mặt.”
Lâm Tử Hào cũng thường treo trên miệng: “Chị cháu giỏi lắm, sau này cháu mà làm được bằng một nửa chị ấy là không uổng phí cuộc đời rồi.”
Tôi luôn coi họ là những người thân thiết nhất, ghi tạc ân tình đó trong lòng.
Sau khi đi làm, mỗi tháng tôi đều gửi cố định cho bác trai một ngàn tệ làm tiền sinh hoạt. Lễ tết, tôi luôn mua một đống đồ từ Quảng Châu xách về quê thăm hai bác. Năm ngoái bác gái nằm viện, tôi gửi một lèo 2 vạn tệ, nói là để hiếu kính người già, không cần nhắc đến chuyện trả lại.

