Trở thành một con rùa già ung dung tự tại, ngẩng đầu nhìn trời giữa bóng núi đá và mặt nước xanh.
Tuy vẫn không che lấp được vẻ xấu xí vốn có của nó.
Nhưng ý cảnh, lại lập tức sinh ra.
Thậm chí… còn có chút thú vị vụng về, trở về nguyên sơ.
Ta đặt bút xuống.
Lòng bàn tay đầy mồ hôi.
Trong thư phòng lại rơi vào một mảnh tĩnh lặng chết chóc.
Tiêu Thừa Kỷ bước đến trước án thư, cúi người xuống, chăm chăm nhìn bức họa “lột xác” kia.
Nhìn rất lâu.
Lâu đến mức ta suýt nghĩ hắn sẽ ra lệnh lôi ta ra ngoài đánh trượng.
Cuối cùng hắn cũng đứng thẳng dậy.
Ánh mắt vô cùng phức tạp rơi trên mặt ta.
Không còn chỉ là phẫn nộ và lạnh lùng thuần túy nữa.
Nhiều thêm dò xét, tìm hiểu, và… một tia kinh ngạc khó nói thành lời.
“Ngươi… hiểu tranh?”
Ta cụp mắt: “Phụ thân thiếp, từng làm mấy năm trung gian buôn bán thư họa, thiếp thân tai nghe mắt thấy, cũng biết được chút ít da lông.”
Đó là lời thật.
Tên cha tiện nghi của ta, cũng chỉ có mỗi cái “nhã hảo” này là đem ra được mà thôi.
Tiêu Thừa Kỷ không nói gì.
Lại nhìn bức họa thêm lần nữa.
Rồi nhìn sang Tiêu Khải Minh đang co ro bên chân ta, dường như thấy bức tranh thêm nét vẽ lại càng đẹp hơn, chính cậu bé đang nhe miệng cười khanh khách.
Vẻ băng giá trên mặt hắn dần dần rút đi.
Cuối cùng hóa thành một tiếng hừ lạnh khó phân rõ ý vị.
“Đưa nó về.”
“Nếu còn có lần sau…”
“Thiếp thân xin đem đầu đến gặp.” Ta lập tức tiếp lời.
Tiêu Thừa Kỷ liếc ta một cái, phất tay.
Như được đại xá.
Ta vội vàng bế Tiêu Khải Minh, đứa bé còn muốn đưa tay sờ thêm con rùa già kia, rồi nhanh chóng lui khỏi thư phòng ngột ngạt đến mức khiến người ta muốn nghẹt thở này.
Sau một trận ấy.
Tiểu tổ tông Tiêu Khải Minh xem như hoàn toàn quấn lấy ta.
Tiêu Thừa Kỷ cũng không nhắc lại chuyện đưa nó đi nữa.
Tiểu viện cá mặn của ta, chính thức thăng cấp thành “nhà trẻ vương phủ”.
Tiêu Khải Minh như miếng bánh gạo nếp nhỏ không tài nào rứt ra được, đi đâu cũng dính lấy đó.
Sức phá hoại vẫn kinh người như cũ.
Nhưng có vẻ như… thằng bé thật sự khai khiếu rồi?
Ít nhất, dưới sự dạy dỗ “đi đường khác lối” của ta.
Ví dụ.
Nó lại nhổ trụi cả đóa trà hoa loại tám học sĩ vừa mới nở trong vườn.
Bưng một đống cánh hoa dâng cho ta như thể dâng bảo vật.
Ta không mắng nó.
Ta kéo nó lại, bày những cánh hoa ấy ra theo độ đậm nhạt của màu sắc.
Từ son đỏ đến phấn trắng, trải đầy cả một mặt bàn.
“Khải Minh, con xem, đây là màu đỏ, đỏ đậm đỏ nhạt.”
Nó mở tròn mắt.
Ta lại nhặt cành cây vạch lên nền đất:
“Hoa, đã tàn rồi. Nhưng sang năm xuân đến, vẫn sẽ nở.”
Nó hiểu mà không hiểu.
Mấy ngày sau.
Nó chỉ vào ráng chiều nơi chân trời, bật ra một chữ: “Đỏ!”
Lại chỉ vào lá mới rơi dưới đất: “Hoa… nở?”
Tuy từ ngữ chẳng đúng ý.
Nhưng Tống ma ma kích động đến mức suýt khóc: “Thế tử! Thế tử biết nhận màu rồi! Còn biết hoa sẽ nở lại nữa!”
Ví dụ.
Nó không còn chạy khắp sân đuổi bướm điên cuồng nữa.
Mà là ngồi xổm trước hang kiến, nhìn một cái là nửa buổi trời.
Còn dùng cành cây nhỏ “bắc cầu” cho kiến, miệng lẩm bẩm không ngừng: “Qua… qua cầu cầu…”
Ta thỉnh thoảng sẽ ngồi xổm bên cạnh nó.
“Khải Minh, kiến đang làm gì vậy?”
“Mang… cơm cơm!” Nó chỉ vào một con kiến thợ đang vác vụn hạt gạo.
“Ừ, chúng đang chuẩn bị lương thực cho mùa đông, rất chăm chỉ.”
Nó nghiêng đầu nhìn ta: “Chăm… chỉ?”
“Đúng vậy, giống như Phúc bá mỗi ngày kiểm kê kho hàng, như ma ma giặt giũ quần áo cho con, đều là chăm chỉ cả.”
Tiêu Khải Minh như hiểu như không gật đầu.
Sáng hôm sau.
Tống ma ma kinh hỉ phát hiện, nó vậy mà đã chỉnh tề xếp con hổ bông nhỏ của mình ngay bên gối.
“Thế tử… thế tử biết dọn dẹp đồ đạc rồi!”
“Nhật thường nuôi con kiểu cá mặn” của ta, chẳng biết từ khi nào đã truyền khắp đám hạ nhân trong vương phủ.

