Nụ cười anh ta khựng lại trong một khoảnh khắc.

Nhanh đến mức gần như không ai nhận ra.

Nhưng tôi thấy.

“Thước vải? À, chắc bà định đo may rèm cho em ——”

“Bà đo không phải cửa sổ.”

Tôi bình thản cắt ngang.

“Bà đo chiều sâu và chiều rộng phòng phía đông.”

Ánh mắt Trần Hướng Đông đổi khác.

Giống như dưới mặt nước có thứ gì đó lướt qua, khẽ gợn một vòng sóng.

Rồi anh ta lại cười.

“Mạch Tuệ, em nghĩ nhiều quá.”

“Có lẽ vậy. Lạnh rồi, em về trước.”

Tôi không chờ anh ta nói thêm, quay người đi.

Đi được hơn chục bước, tôi nghe phía sau không có tiếng chân theo nữa.

Anh ta sẽ không theo đâu.

Kiếp trước cũng vậy.

4

Tối hôm đó tôi làm hai việc.

Việc thứ nhất: viết thư cho cô Tống Chiêu Đệ.

Cô lấy chồng ở thôn Trương Gia, huyện bên cạnh, đi xe phải mất nửa ngày.

Kiếp trước, sau khi cha tôi mất, cô đến chịu tang nhưng bị nhà họ Trần lấy cớ “đường khó đi” chặn lại ở đầu làng, từ đó cắt đứt liên lạc.

Cho đến khi tôi chết, tôi cũng không gặp lại cô lần nào.

Bức thư rất ngắn:

“Cô, con là Mạch Tuệ. Nhà ba tiến và khế đất của cha vẫn còn. Nhà họ Trần ngày mai làm hôn lễ với con, nhưng con đã tra rồi, trên hôn thư ghi là ‘gả cưới’ chứ không phải ‘ở rể’. Con không gả nữa. Con cần cô đến. Trước ngày hai mươi sáu tháng Chạp phải tới.”

Việc thứ hai: lục lại di vật của cha.

Cha để lại không nhiều, một chiếc rương gỗ cũ, mấy bộ quân phục, một đôi giày Giải Phóng, một cái cốc tráng men và một xấp thư.

Kiếp trước tôi chưa từng đọc kỹ những bức thư ấy.

Kiếp này tôi mở từng lá, ngồi dưới đèn dầu hỏa đọc suốt một đêm.

Phần lớn là thư cha trao đổi với đồng đội.

Nhưng có một lá khác hẳn.

Đó là thư cha viết cho cô, đề ngày 1973 —— hai năm trước khi ông qua đời.

Trong thư viết:

“Chiêu Đệ, thằng thứ hai nhà họ Trần từng sang hỏi cưới, anh không đồng ý. Nhà này ánh mắt không đúng. Lão Trần tuy là bí thư, nhưng vợ hắn là Lưu Thúy Lan không phải dạng vừa. Hôm họp đội anh nghe bà ta lẩm bẩm với người ta rằng sân ba tiến nhà ta ‘để một con bé ở thì phí quá’. Anh hiểu trong lòng. Chuyện hôn nhân của Mạch Tuệ anh tự quyết, không cần họ lo.”

“Nhà này ánh mắt không đúng.”

Cha tôi, một người lính xuất ngũ thật thà, nhìn người còn chuẩn hơn tôi.

Nhưng ông mất quá sớm.

Sau khi ông mất chưa đầy hai năm, Lưu Thúy Lan lấy danh nghĩa “chăm sóc cô nhi” ngày nào cũng qua nhà tôi hỏi han.

Vợ bí thư thôn chăm sóc một cô gái mồ côi, ai mà không khen?

Đến khi tôi mười tám tuổi, bà ta đề nghị để Trần Hướng Đông “ở rể”.

Cả làng đều cho đó là chuyện tốt trời ban.

Kiếp trước tôi cũng nghĩ vậy.

Tôi gấp lá thư lại, đặt cùng với khế đất.

Hai thứ này chính là con bài lật ngược thế cờ của tôi.

Sáng hôm sau, tôi lên công xã làm thủ tục sang tên nhà đất.

Ngay trong ngày, trên sổ đăng ký đã đổi từ Tống Đức Sơn sang Tống Mạch Tuệ, đóng dấu đỏ rõ ràng.

Từ công xã trở về, đi đến đầu làng.

Triệu Hồng Mai.

Cô ta cưỡi chiếc xe đạp Phượng Hoàng mới tinh, mặc áo bông hoa nhỏ, gương mặt trắng trẻo bị gió lạnh thổi ửng đỏ.

Thấy tôi, biểu cảm của cô ta rất lạ.

Không phải thù địch, cũng không phải thân thiện.

Mà là một kiểu nhìn từ trên cao xuống.

Giống như đang ngắm nhìn chủ nhân hiện tại của một thứ sắp thuộc về mình.

“Cô là Tống Mạch Tuệ phải không?”

Cô ta lên tiếng trước, cười rất chuẩn mực.

“Tôi là Triệu Hồng Mai ở đài phát thanh công xã, đến đưa thông báo.”

Đưa thông báo đâu cần đến tận đầu làng.

Càng không cần “vừa khéo” xuất hiện đúng lúc tôi trở về.

“Tôi biết cô là ai.” Tôi nói.

Nụ cười của Triệu Hồng Mai khựng lại một thoáng.

“Nghe nói ngày mai cô kết hôn? Chúc mừng nhé. Trần Hướng Đông là người tốt.”

“Cô hiểu anh ta lắm à?”

Không khí lặng đi một giây.

Ngón tay cô ta khẽ động trên ghi đông xe.

“Cũng không hẳn là hiểu, chỉ là… ở công xã gặp vài lần thôi.”

Cô ta cười nhẹ.