“Phu nhân, mở nha rồi.” Xuân Hạnh vén rèm lên.

Ta ôm A Uyên xuống xe, bước vào phủ nha.

Trước cửa sổ đăng ký đã có mấy người xếp hàng.

Đến lượt ta, ta đưa phong thư hòa ly ấy vào trong.

Thư lại tiếp nhận, liếc qua một cái, rồi ngẩng đầu nhìn ta.

“Thẩm phu nhân?”

“Phải.”

Hắn nhíu mày, lại xem bức thư một lần nữa, rồi quay người đi vào trong.

Ta đợi một lát.

Màn trướng bị vén lên, một người bước ra.

Quan phục màu lam sẫm, bên hông đeo túi bạc ngư, mày mắt lạnh nhạt — thiếu khanh Đại Lý Tự, Tạ Lẫm.

Hắn cầm phong thư hòa ly kia trong tay, ánh mắt dừng trên mặt ta một thoáng.

Rồi hắn cất lời: “Thẩm phu nhân, phong thư hòa ly này, là do Thẩm Nghiễn tự tay viết?”

“Phải.”

“Ngày tháng là mồng bảy tháng mười?”

“Phải.”

“Ngươi tận mắt thấy hắn viết?”

“Phải.”

Hắn gật đầu, lại cúi xuống nhìn lá thư.

Bên cạnh, một thư lại khom người ghé tới, nhỏ giọng lẩm bẩm: “Đại nhân, đây chẳng phải vị Thẩm phu nhân kia sao? Chính là người năm đó một đường cùng Thẩm đại nhân đi thi ấy — nghe nói Thẩm đại nhân thi ba năm mới đỗ, nàng ấy cũng theo ba năm, chịu không ít khổ.”

Tạ Lẫm không đáp.

Hắn chỉ nhìn phong thư kia, nhìn rất lâu.

Lâu đến mức ta còn tưởng hắn muốn hỏi gì nữa.

Rồi hắn đặt thư xuống, nói với thư lại: “Đăng ký.”

Thư lại ngẩn ra: “Đại nhân, việc này… không cần triệu Thẩm đại nhân tới xác minh sao?”

“Thư là thật, ấn là thật. Còn cần xác minh gì nữa?”

Thư lại không dám hỏi thêm, cúi đầu đi làm thủ tục.

Ta nhìn Tạ Lẫm.

Hắn cũng nhìn ta.

“Đa tạ Tạ đại nhân.” Ta nói.

Hắn gật đầu, không nói gì.

Thủ tục làm xong, hắn đưa giấy xác nhận đã đăng ký cho ta.

Ta nhận lấy, xoay người định đi.

“Tô nương tử.”

Ta quay đầu lại.

Hắn đứng trước án, ánh mặt trời từ song cửa chiếu vào, rơi lên người hắn.

“Bức Tiểu Quan Âm kia, vẫn bình an chứ?”

Ta sững người.

Hắn nhìn ta: “Nhiều năm trước, ở Bảo Hoa tự. Phu nhân còn nhớ chăng, từng giúp một tiểu sa di giải vây?”

Bảo Hoa tự.

Đó là nơi khi còn sống, mẫu thân ta thường dẫn ta đi cầu phúc.

Ta nhớ có một năm, trong chùa có một tiểu sa di, vì làm vỡ một ngọn đèn lưu ly mà bị phương trượng quở trách giữa đông người.

Khi ấy ta mới mười hai mười ba tuổi, thấy không đành lòng, liền nói là do mình vô ý làm đổ, bồi bạc rồi bỏ qua.

“Tiểu sa di kia…”

“Là ta.” Tạ Lẫm khẽ mỉm cười, “Bức Tiểu Quan Âm của Tô nương tử, chính là xin vào ngày ấy. Ta trốn sau cột hành lang, nhìn thấy lão phu nhân nâng tượng Quan Âm đến trước mặt cô nương, nói ‘nguyện cả đời thuận lợi’.”

“Đại nhân thật có trí nhớ.”

Hắn gấp văn thư lại, hai tay đưa tới: “Chúc mừng Tô nương tử, lại được tự do.”

5

Rời phủ nha, trời đã sáng hẳn.

Xuân Hạnh dìu A Uyên lên xe ngựa, ta đứng bên xe một lát, ngoảnh đầu nhìn lại.

Cửa phủ nha vẫn còn mở, bóng dáng Tạ Lẫm đã sớm không còn thấy nữa.

“Phu nhân?” Xuân Hạnh vén rèm xe.

Ta lên xe.

Xe ngựa lăn bánh, bánh xe nghiến qua nền đá xanh, kêu cộp cộp.

A Uyên nằm bò trên đùi ta, bàn tay nhỏ vẫn nắm chặt bàn tính của nó, mơ mơ màng màng lại ngủ thiếp đi.

Ta tựa vào vách sau, khép mắt lại.

Âm thanh bên ngoài xe dần dần xa đi — tiếng rao hàng, tiếng xe ngựa, tiếng người nói cười.

Thế nhưng mọi chuyện trong sáu năm qua, lại như đèn kéo quân lướt qua trước mắt.

Từ Hàn Lâm tu soạn đến Hộ bộ thị lang, hắn một đường thuận buồm xuôi gió.

Ta cũng từ con gái nhà họ Tô biến thành chủ mẫu nhà họ Thẩm, từ một mình gảy bàn tính, đến thay hắn quản lý hậu viện, lo liệu nhân mạch, lo liệu những việc giao tế mà hắn chẳng ngó ngàng tới.

Cuộc sống không phải là không tốt.

Hai năm đầu thành thân, hắn đối với ta là thật lòng.

Khi ra ngoài giao thiệp, hắn sẽ mua trâm cài cho ta; về nhà muộn, hắn sẽ khẽ khàng bước đi, sợ làm ta tỉnh giấc.