Ngày thứ bảy nhập phủ, ta bắt đầu đi lại vào ban đêm.

Mấy ngày trước ta đều làm một việc, nắm rõ địa hình của Hầu phủ.

Đâu là chính viện, đâu là sương phòng, đâu có chó, tường chỗ nào có thể trèo qua, con đường nào ban đêm không có người canh gác, toàn bộ đều vẽ lên giấy, khắc vào tâm trí.

Gia đinh hộ viện của Hầu phủ không tính là ít, nhưng tuần tra hậu trạch có quy luật có thể nắm bắt.

Canh hai một lần, canh tư một lần, khoảng trống ở giữa là hai canh giờ.

Mà thư phòng của Hầu gia lại nằm tít sâu trong phủ, cách hậu trạch một hành lang gấp khúc, ban đêm càng là nơi không ai quấy rầy.

Những thứ này đều là Đại tẩu “hảo tâm” nói cho ta biết.

Nàng đại khái tưởng rằng ta chỉ đang nói chuyện phiếm, liền đem những thứ này làm chuyện nhà cửa kể cho ta nghe, lại không biết một đôi tai mang dã tâm giết người, có thể từ trong những câu chuyện phiếm nghe ra bao nhiêu thứ.

Thứ thực sự khiến ta hạ quyết tâm, là đêm ngày thứ mười.

Đêm đó ta vốn định đi Thính Trúc hiên xem thử.

Ta luôn cảm thấy nơi đó che giấu thứ gì.

Nhưng ta vừa vòng qua hành lang gấp khúc, liền nhìn thấy một bóng người đi ra từ hướng thư phòng của Hầu gia, dáng người tha thướt, bước đi vội vã, mượn bóng trúc che chở mà đi về phía hậu trạch.

Ánh trăng chiếu lên mặt nàng ta, tuy chỉ lướt qua chớp nhoáng, nhưng ta nhìn vô cùng rõ ràng.

Là Đại tẩu.

Nửa đêm canh ba, Đại tẩu đi ra từ thư phòng Hầu gia.

Ta nép sau cột hành lang, tim đập nhanh như đánh trống, nhưng nhịp thở lại ép xuống cực nhẹ cực chậm.

Bóng dáng Đại tẩu biến mất sau cánh cửa nguyệt môn của hậu trạch, ta đợi chừng thời gian cạn một chén trà, xác nhận không còn ai khác, mới chậm rãi bước ra từ sau cây cột.

Đèn trong thư phòng vẫn sáng.

Trên giấy dán cửa sổ hắt lên một bóng người, đang ngồi trước thư án, dường như đang viết gì đó.

Ta lặng lẽ lui về viện của mình.

4

Đêm hôm đó ta nằm trên giường, xâu chuỗi mọi manh mối trước sau lại với nhau, xâu ra một đường dây khiến ta lạnh toát sống lưng.

Đại tẩu và Hầu gia có tư tình.

Trượng phu của Đại tẩu, trưởng tử của Hầu gia là Chu Dục, năm năm trước ngã ngựa bỏ mạng.

Nữ nhi của Đại tẩu là Tuệ tỷ nhi năm nay bốn tuổi, Chu Dục chết đã năm năm, nghe nói Tuệ tỷ nhi là di phúc tử, lại còn là sinh non.

Nhưng thật sự trùng hợp như vậy sao?

Ta lại một lần nữa nhớ lại khuôn mặt hồng hào khỏe mạnh của Tuệ tỷ nhi.

Tuệ tỷ nhi là cốt nhục của Hầu gia.

Cái chết của Chu Dục, không phải là tai nạn.

Suy luận này quá táo bạo, táo bạo đến mức bất kỳ kẻ bình thường nào cũng sẽ nghĩ ta điên rồi.

Nhưng ta không phải người bình thường.

Ta là một đứa muội muội mất đi tỷ tỷ, là một nữ nhân gả vào phủ đệ của kẻ thù, là một ác quỷ rắp tâm đoạt mạng.

Sự thật mà chỉ kẻ điên mới dám nghĩ tới, đối với ta mà nói chẳng qua là có thêm một lý do đáng chết mà thôi.

Mấy ngày tiếp theo, ta bắt đầu có ý thức quan sát sự tương tác giữa Hầu gia và Đại tẩu.

Thái độ của Hầu gia đối với con dâu trước mặt người ngoài nhạt nhẽo mà giữ lễ, gặp mặt chẳng qua là gật đầu chào hỏi, nói chuyện không quá ba câu, hoàn toàn là bộ dáng một người cha chồng tuân thủ lễ nghĩa nên có.

Nhưng ta chú ý tới một chi tiết, mỗi khi Đại tẩu có mặt, ngón tay Hầu gia luôn bất giác vuốt ve dải tua rua của cây sáo ngọc giắt bên hông.

Đó là vật tùy thân của ông ta, ngày ngày không rời người, chỉ lúc bực bội hoặc thất thần mới đưa tay sờ đến.

Còn Đại tẩu, mỗi khi ngón tay Hầu gia chạm vào sáo ngọc, gốc tai nàng lại ửng hồng, đỏ rất nhạt, chớp lóe rồi biến mất, e rằng chính nàng cũng chẳng nhận ra.

Sự ăn ý của hai con người này, giống như hai con rắn quấn lấy nhau, giấu trong góc tối, không thể thấy ánh mặt trời.