Xem xong ông gấp lại, nhét vào túi trong áo bông.

“Cô cần những loại nguyên liệu gì?”

Tôi đưa danh sách.

Ông nhìn qua một lượt.

“Đậu bản tương không có, thảo quả với bạch khấu cũng không có.

Hoa tiêu, ớt, đại hồi, quế thì có.

Trong góc kho có một lô tồn đọng, năm ngoái đã định xử lý.

Bị ẩm, bề ngoài xấu.”

“Có thể ngửi thử không?”

Ông dẫn tôi vào.

Mấy bao tải lớn xếp sát tường, phủ đầy bụi.

Tôi mở miệng bao, cúi sát ngửi.

Hoa tiêu bị ẩm nhưng vị tê vẫn còn, phơi khô rồi rang lên vẫn dùng được.

Ớt khô hơi mềm nhưng không có mùi mốc.

“Nếu lấy hết thì tính giá hàng xử lý, hai đồng một bao.”

Chưa đến một phần năm giá bình thường.

“Tôn thúc, cháu lấy hết.”

Vác ba bao tải lớn gia vị đi về, ở ngã tư huyện tôi gặp người.

Phùng Lệ Bình khoác tay Trần Thiệu Quốc, vừa bước ra từ nhà hàng quốc doanh.

Cô ta thấy tôi, nụ cười nơi khóe miệng càng lớn hơn.

“Ôi, đây chẳng phải chị Vãn Đường sao?

Cõng cái bao to thế, lại đi nhặt phế liệu à?”

Tôi không để ý tới cô ta, đổi vai gánh rồi vòng qua.

Trần Thiệu Quốc liếc nhìn bao tải trên vai tôi, nhíu mày một cái, không nói gì, kéo Phùng Lệ Bình đi.

Giọng Phùng Lệ Bình từ phía sau bay tới.

“Thiệu Quốc, vợ cũ của anh buồn cười thật đấy.

Cõng cả đống rác mà đi còn lảo đảo…”

Tiếng nói dần xa.

Gió rất lớn, hạt hoa tiêu trong bao tải xào xạc.

Tôi đổi sang vai khác, tiếp tục đi.

Những thứ còn thiếu tôi sẽ tự nghĩ cách.

Thảo quả cho ít lại, bạch khấu dùng sa nhân thay thế.

Chỉ riêng đậu bản tương là không có thứ thay thế.

Nó là linh hồn của nước lẩu.

Đậu bản tương Bì Huyện chính gốc phải lên men một năm, không thể đợi.

Nhưng có thể làm bản giản lược.

Đậu tằm nghiền nhỏ trộn với ớt băm, muối và men, bịt kín lên men nửa tháng.

Mùi vị kém hơn một chút, nhưng vẫn dùng được.

Tôi mua hai mươi cân đậu tằm khô, băm ớt suốt cả buổi chiều.

Tay bị nước ớt thấm đỏ bừng.

Mẹ tôi vừa từ chuồng heo về suýt nữa ném cả thùng thức ăn xuống đất.

“Con điên rồi à?

Con định làm cay chết cả làng à?”

Nguyên liệu được cho vào chum sành, bịt kín.

Tôi đặt nó vào góc ấm nhất cạnh bếp.

Mỡ bò tôi tìm đến lão đồ tể Triệu ở cuối làng.

Một gã đầu trọc lực lưỡng, tính khí khó chịu nhưng con người rất thẳng thắn.

“Triệu thúc, cho cháu nợ mười cân mỡ bò.

Sau này kiếm được tiền, mỡ bò cháu sẽ lấy hết ở chỗ thúc.”

Ông ta đang lọc xương, đầu không ngẩng lên.

“Một con nhóc bị trả về như cô, lấy gì mà kiếm tiền?”

“Bằng tay nghề.”

Hắn ngẩng đầu nhìn tôi một cái, từ dưới thớt kéo ra một miếng mỡ bò tấm ném sang.

“Trước cho cô năm cân.

Kiếm được tiền thì trả, không kiếm được coi như tôi đem cho chó ăn.”

Còn thiếu một cái nồi lớn.

Ở trạm phế liệu trong thị trấn có một cái nồi sắt lớn bị nhà ăn quốc doanh thải ra.

Gỉ sét loang lổ, thân nồi dày chắc không có vết nứt, cọ rửa một lần rồi tráng dầu dưỡng lại thì dùng thêm hai mươi năm nữa cũng được.

“Hai đồng rưỡi, bớt một xu cũng không bán.”

Tôi lấy ra hai đồng rưỡi.

Trong thời gian chờ đậu bản tương lên men tôi cũng không rảnh rỗi.

Gia vị phơi khô, sàng lọc rồi chia gói.

Tôi nhờ cha xây một cái bếp.

Ngày nào cũng ra chợ sớm trong thị trấn dò giá.

Trần Tiểu Hòa chính là vào thời gian này bắt đầu giúp tôi.

Cô bé không dám nói chuyện với người khác, nhưng khi yên tĩnh thì luôn đứng lặng lẽ bên cạnh nhìn.

Tôi chọn hoa tiêu, cô bé cũng ngồi chọn cùng.

Tôi ghi giá, cô bé ngồi bên cạnh vểnh tai nghe.

Có một tối tôi tính sổ, có một khoản mãi không khớp.

Cô bé bỗng nhỏ giọng nói.

“Chị… chị dâu.

Khoản đó là… ba hào hai, không phải ba hào năm.”

“Em sao biết?”

Cô bé cúi đầu, tai đỏ lên.

“Em… em nhớ.

Hôm nay hoa tiêu một cân hai đồng ba, chị mua một cân bốn lạng… đáng lẽ là ba đồng hai hào hai.”

Tôi nhìn cô bé rất lâu.

Ở nhà họ Trần mười sáu năm, chưa từng có ai nói với cô bé rằng “em có ích”.

Anh trai cô chê cô làm mất mặt, đến chính cô cũng cảm thấy mình là đồ vô dụng.

“Tiểu Hòa.

Từ ngày mai em giúp chị quản sổ sách.”

Cô bé sững lại.

Rồi cúi đầu xuống, nước mắt rơi lộp bộp lên đầu gối, khóc không thành tiếng, vai run mãi.

Đêm đó cô bé không ngủ.

Tôi cũng không ngủ.