“Lúc trước… là mẹ không ngăn được con.
Con nhất quyết đòi lấy…”
“Mẹ, đừng nói nữa.”
Tôi lần lượt gỡ từng móng tay đang cắm vào thịt của bà ra.
“Con đã về rồi thì sẽ không đi nữa.
Những ngày sau này, sẽ khá lên thôi.”
Sau khi mọi người đã ngủ, một mình tôi ngồi trước bếp lò đun nước.
Trong nhà rất yên tĩnh.
Chỉ có tiếng củi trong lò thỉnh thoảng nổ lách tách.
Tôi mang từ huyện về một gói nhỏ hoa tiêu khô, tiện tay đặt bên cạnh bếp.
Lúc đun nước vô ý làm đổ túi giấy, hạt hoa tiêu lăn đầy mặt bếp.
Tôi cúi xuống nhặt, mùi tê cay của hoa tiêu xộc vào mũi.
Rồi tôi sững lại.
Ký ức của kiếp trước như nước sôi trào lên, ùng ục dâng lên.
Lẩu Trùng Khánh.
Năm 1983, lẩu vẫn còn co cụm trong góc nhỏ Tứ Xuyên – Trùng Khánh, chưa đi ra ngoài.
Cả miền Bắc, không có lấy một quán.
Tôi biết nồi lẩu dầu đỏ ấy có ma lực lớn đến mức nào.
Kiếp trước sau khi bị đuổi về, cuối những năm chín mươi có một người bán hàng rong Tứ Xuyên dựng quầy lẩu ở thị trấn.
Tôi ăn thử một lần, kinh ngạc như gặp tiên.
Sau này người đó đi mất, tôi dựa vào ký ức, suốt hơn mười năm tự tái hiện lại trên bếp đất ở nhà.
Hoa tiêu phải dùng loại Hán Nguyên, ớt khô phải trộn ớt Nhị Kinh Điều với ớt đầu đạn.
Đậu bản tương nhất định phải là loại của Bì Huyện.
Mỡ bò phải nấu đến khi hơi ngả vàng cháy mới cho gia vị vào.
Tỷ lệ, lửa, từng bước làm, tất cả đã khắc sâu vào tận xương.
Kiếp trước tay nghề này chưa từng được dùng tới, theo tôi xuống tận quan tài.
Nhưng bây giờ là năm 1983.
Năm thứ năm cải cách mở cửa.
Chính sách hộ kinh doanh cá thể vừa mới nới lỏng.
Tôi nhìn nắm hoa tiêu trong tay, rồi nhìn nước sôi cuồn cuộn trên bếp.
Ý nghĩ càng lúc càng rõ ràng, càng lúc càng nóng bỏng.
Nhưng ngay lúc ý nghĩ ấy trào lên, một thứ khác cũng theo đó dâng lên.
Bụng tôi bỗng quặn đau.
Theo phản xạ tôi đưa tay ôm lấy bụng dưới.
Trống rỗng.
Kết hôn năm năm, tôi không giữ được đứa con nào.
Năm kia từng sảy thai một lần, hơn nửa tháng trước lại mất thêm một đứa.
Hai tháng tuổi.
Trần Thiệu Quốc không biết.
Nói chính xác hơn, tôi đã nói với hắn, nhưng hắn không nghe.
Hôm đó hắn vội ra ngoài mang quà biếu cho cha của Phùng Lệ Bình.
Tôi kéo tay áo hắn nói: “Thiệu Quốc, hình như em lại có thai rồi.”
Hắn thậm chí không quay đầu, chỉ nói một câu: “Về rồi nói sau.”
Sau đó lúc hắn đẩy tôi va vào bậc cửa, đứa bé liền mất.
Hắn không biết.
Hắn không có mặt.
Hắn sẽ vĩnh viễn không bao giờ biết.
Ánh lửa từ bếp hắt lên mặt tôi.
Tôi nhìn chằm chằm nắm hoa tiêu rất lâu.
Không khóc.
Nhưng tay vẫn run.
Run rất lâu, lâu đến mức nước trong ấm sôi cạn tôi cũng không phát hiện.
Cho đến khi trên bếp vang lên một tiếng “xì——” chói tai, tôi mới giật mình tỉnh lại, vội nhấc ấm nước xuống.
Mu bàn tay bị bỏng đỏ một vệt.
Đau.
Nhưng nỗi đau ấy so với cảm giác trống rỗng nặng trĩu trong bụng dưới, chẳng đáng gì.
Tôi nhặt sạch hoa tiêu, từng hạt từng hạt bỏ lại vào túi giấy.
Tôi không muốn nghĩ nữa.
Sổ nợ của đời này, bắt đầu từ ngày mai sẽ ghi từng khoản một.
Sáng sớm hôm sau tôi xin mẹ giấy bút để lập danh sách.
Mỡ bò.
Đậu bản tương Bì Huyện.
Hoa tiêu khô.
Ớt khô.
Đại hồi.
Quế.
Thảo quả.
Bạch khấu.
Lá nguyệt quế.
Tiểu hồi hương.
Năm 1983 ở một huyện miền Bắc, gom đủ sáu phần đã là tốt.
Đậu bản tương, thảo quả, bạch khấu ở địa phương căn bản không có.
Mẹ chồng lúc phơi nắng ngoài gian giữa nhìn thấy tờ danh sách.
Bà dùng tay trái kéo tờ giấy lại gần, nhìn rất lâu, rồi ngẩng đầu, khó nhọc nói.
“Cung… tiêu… xã.
Lão… Tôn.
Kho… hàng.”
Chiều hôm đó tôi dìu tay trái của mẹ chồng viết một lá thư, nhét vào người rồi đi đến hợp tác xã cung tiêu của huyện.
Trước cửa kho có một ông lão sắp nghỉ hưu ngồi đó.
Tóc hoa râm, lưng còng, áo bông có ba miếng vá.
“Tôn thúc, cháu là con dâu của Chu Quế Lan.”
Vỏ lạc trong tay ông rơi xuống đất.
“Lão Chu?
Lão Chu còn sống à?”
“Còn sống.
Bị trúng gió, nửa người không cử động được, nhưng đầu óc vẫn rất tỉnh táo.”
Tôi đưa lá thư qua.
Tôn Đức Phúc mở ra xem rất lâu, mũi gần như dán sát vào tờ giấy.

