“Người trong làng còn có mặt mũi chọc à?”

Triệu Quý Sinh hạ thấp giọng.

“Trầm Chu, đừng làm chuyện này ầm ĩ ra bên ngoài. Chuyện của cha cậu đã có người hỏi rồi, trên thị trấn cũng biết. Cậu tiếp tục cố chấp thì mặt mũi mọi người đều khó coi.”

Tôi hỏi:

“Ai hỏi?”

Triệu Quý Sinh không trả lời.

“Người của thị trấn hay người ở cấp cao hơn?”

Ông ta bóp bẹp hộp thuốc.

“Tôi không biết.”

Ông ta xoay người định đi.

Tôi gọi lại:

“Trưởng thôn Triệu.”

Ông ta dừng chân.

“Ngày mai sẽ có người đến. Tốt nhất ông đừng ngăn cản.”

Triệu Quý Sinh quay lại nhìn tôi.

“Ai đến?”

“Người đến thắp hương cho cha tôi.”

Môi ông ta động đậy, cuối cùng chỉ nói một câu:

“Cậu đừng làm hại cả làng.”

Tôi nói:

“Là họ hại cha tôi trước.”

Sau khi Triệu Quý Sinh rời đi, anh rể đóng cửa.

Chị tôi nhìn chằm chằm vào tôi.

“Trầm Chu, cha có biết chuyện của em không?”

“Biết một chút.”

“Vật được bọc trong vải đỏ là gì?”

Tôi không lên tiếng.

Mắt chị đầy tia máu.

“Cha giấu chiếc hộp đó dưới gầm giường. Tháng trước, ông bảo chị phải nhớ vị trí. Ông nói nếu mình xảy ra chuyện, sau khi em trở về thì giao nó cho em.”

Tôi cúi đầu nhìn chậu lửa.

Tiền giấy cháy quăn mép đen rồi sụp xuống.

Tôi nói:

“Chị, trước sáng mai đừng hỏi nữa.”

Chị nhẫn nhịn rất lâu, cuối cùng bật khóc.

“Chị không muốn ép em. Chị chỉ sợ. Những người ngoài kia giống như muốn hại cha thêm lần nữa.”

Tôi bỏ một tờ tiền giấy vào lửa.

“Không đâu.”

Anh rể trở lại ngồi ngoài cửa, buồn bực nói:

“Tốt nhất em thật sự có cách.”

“Có.”

Ngoài tường có người ho một tiếng.

Chúng tôi đồng loạt nhìn sang.

Chú ba đứng dưới chân tường, trong tay xách một bao gạo.

Chú không vào cửa, chỉ đặt bao gạo cạnh tường.

“Tôi chưa từng tới đây.”

Anh rể định mắng chú.

Chú ba xua tay.

“Đừng lên tiếng. Anh cả cho người theo dõi rồi.”

Tôi đi ra cửa.

“Chú ba, chú muốn nói gì?”

Chú xoa tay.

“Bác cả không chỉ muốn tiền. Ông ấy còn muốn cháu ký một tờ giấy.”

“Giấy gì?”

“Nói cha cháu khi còn sống nợ tiền sửa từ đường, tiền bồi thường phải được dùng để trả nợ trước.”

“Cha cháu nợ từ lúc nào?”

Giọng chú ba hạ xuống.

“Không nợ. Anh cả bảo kế toán viết bổ sung.”

Chị tôi lao ra.

“Chú biết là giả mà còn giúp ông ta?”

Chú ba không dám nhìn chị.

“Con trai chú tháng sau cưới, tiệc cưới tổ chức trong làng. Chú không thể trở mặt với anh cả.”

Tôi hỏi:

“Tờ giấy ở đâu?”

“Trong tủ của từ đường. Sáng mai có đại lễ tế tổ, anh cả sẽ bắt cháu ký trước mặt cả làng. Nếu cháu không ký, ông ấy sẽ nói cháu không nhận tổ tiên, không cho cha cháu vào nghĩa địa.”

“Vì sao chú nói cho cháu?”

Chú ba lau mặt.

“Ban ngày anh cả tát cháu, chú nhớ đến cha cháu. Hồi nhỏ chú bị người khác bắt nạt, cha cháu cũng đứng chắn trước mặt chú như vậy. Cả đời anh ấy chưa từng chiếm lợi của chú.”

Nói xong, chú quay người đi.

Chị tôi đuổi theo hai bước.

“Chú ba, ngày mai chú có thể nói giúp chúng cháu một câu không?”

Chú dừng lại nhưng không quay đầu.

“Chú không dám.”

Chú đi vào màn đêm.

Chị tôi tức giận đá vào bậc cửa.

Tôi nhìn bao gạo cạnh tường.

Bên trên đè một mảnh giấy nhỏ.

Chữ viết rất nguệch ngoạc.

“Sáng mai đừng vào từ đường, bên trong có bẫy.”

Tôi bỏ mảnh giấy vào chậu lửa, nhìn nó cháy sạch.

Anh rể hỏi:

“Phải làm sao?”

Tôi nói:

“Đi.”

Anh rể sững sờ.

Tôi nói:

“Họ đã đào sẵn hố. Nếu tôi không đi, làm sao họ rơi xuống được?”

Trời vừa sáng, bác cả đã dẫn người đến.

Ông ta mặc áo dài màu đen, trước ngực cài một bông hoa trắng, trông như thật sự đang lo tang sự cho nhà tôi.

Phía sau là hơn mười người đàn ông cùng họ. Trong tay họ không cầm gậy tang mà cầm dây thừng và vải trắng.

Bác gái đứng đầu đám người.

“Lý Trầm Chu, ra đây. Hôm nay tế tổ, chuyện của cha mày phải đến từ đường nói cho rõ.”

Chị tôi chắn ngoài cửa.

“Cha tôi còn nằm trong linh đường, mọi người định ép người ta đi đâu?”

Bác cả nói:

“Người chết là lớn nhất, vì vậy càng phải nói quy củ. Trước tiên đến từ đường thanh toán sổ sách, sau đó mới bàn chuyện chôn cất.”

Tôi bước ra.

“Khoản nợ nào?”

Bác cả vẫy tay về phía sau.

Một người đàn ông cao gầy lấy ra một tờ giấy.

Là kế toán Lý.

Hồi nhỏ cha tôi từng giúp nhà ông ta thu hoạch lúa mì. Khi ấy ông ta còn gọi cha tôi là anh Lý.

Bây giờ ông ta giơ tờ giấy trước mặt tôi.

“Cha cậu hai năm trước đã đồng ý đóng một trăm năm mươi nghìn để sửa từ đường, còn ký tên. Đến nay vẫn chưa trả. Dòng họ thông cảm mới kéo dài tới bây giờ. Tiền bồi thường đã có thì nên trả rồi.”

Tôi hỏi:

“Chữ ký ở đâu?”

Kế toán Lý chỉ cho tôi xem.

Trên giấy viết ba chữ Lý Kiến Quốc.

Nét chữ méo mó.

Tôi nói:

“Khi cha tôi viết tên mình, nét sổ cuối cùng của chữ Quốc chưa bao giờ thò ra ngoài.”

Sắc mặt kế toán Lý cứng lại.

Bác cả lập tức nói:

“Người già tay run, chữ không giống nhau là bình thường.”

Tôi nói:

“Ngón trỏ tay phải của cha tôi từng bị máy kẹp khi còn trẻ. Khi cầm bút, nét chữ sẽ nghiêng sang trái. Chữ ký này lại nghiêng sang phải.”

Những người xung quanh bắt đầu nhỏ giọng bàn tán.

Bác gái cao giọng:

“Mày biết gì? Mấy năm không về nhà, còn nhớ cha mày viết chữ thế nào sao?”