Anh ta hét lớn vào núi:
“Chiêu Phúc! Chiêu Phúc! Chiêu Phúc!”
Núi không đáp lại anh ta.
Anh ta dập đầu cái thứ nhất.
Cái thứ hai.
Cái thứ ba.
Dập đầu xong, anh ta đứng dậy, loạng choạng đi xuống núi.
Đến chân núi, từ hốc cây cổ thụ bên đường bay ra một phong thư và một miếng ngọc nhỏ khắc chữ “Chiêu Phúc”.
Kỳ Hoài Uyên nhặt miếng ngọc nhỏ lên, nhận ra nét chữ của ông nội.
Anh ta lại cầm phong thư lên.
Nét chữ bút máy thanh tú, mở đầu viết:
“Gửi con của ta.”
“Con của ta.
Khi con nhìn thấy lá thư này, có lẽ cô gái kia đã rời đi rồi.
Năm ta gả vào nhà họ Kỳ, ta đeo miếng ngọc này. Vì thế ta sống ở nhà họ Kỳ tám mươi năm, chưa từng mất đi một ngày tuổi thọ.
Khi cô ấy từ ngọn núi kia đến, cô ấy sẽ mang theo một tấm vải đỏ. Tấm vải đỏ đó chính là mạng của cô ấy.
Cô ấy ở nhà họ Kỳ không thể ăn cơm nhà họ Kỳ, không thể uống nước nhà họ Kỳ. Ăn uống rồi sẽ bị trừ tuổi thọ. Cô ấy muốn sống, chỉ có thể dựa vào tấm vải đỏ kia, cắt từng mảnh nhỏ sắc nước uống.
Mỗi lần cô ấy cầu phúc cho nhà họ Kỳ, mỗi lần cô ấy chắn tai họa cho nhà họ Kỳ, thứ cô ấy dùng cũng là tấm vải đỏ đó. Dùng một lần, mạng của cô ấy lại ít đi một chút.
Miếng ngọc kia là tín vật ngọn núi đưa cho nhà họ Kỳ, vốn phải giao cho cô ấy. Cô ấy đeo nó rồi sẽ không cần dựa vào vải đỏ để chống đỡ nữa.
Bà nội già rồi, có vài chuyện không kịp dặn dò. Nếu con nhìn thấy lá thư này, nghĩa là chuyện bà lo lắng đã xảy ra.
Hãy tìm cô ấy.
Đeo ngọc cho cô ấy.
Cho dù cô ấy không chịu trở về, con cũng phải đưa ngọc cho cô ấy.
Đừng để một cô gái đã bẻ nát mạng mình ra để nuôi nhà họ Kỳ, đến cuối cùng ngay cả một miếng ngọc cũng không đợi được.
Nhớ kỹ.
Nhớ kỹ.”
Lạc khoản: “Lâm thị.”
Kỳ Hoài Uyên quỳ trước tảng đá, nắm phong thư ấy, khóc không thành tiếng.
9
Anh ta hiểu hết rồi.
Mười năm qua, người cháu gái mà ông nội anh ta dùng mạng đổi về, lại bị anh ta gọi là “con ngốc nhỏ” suốt mười năm.
Anh ta nắm lá thư và miếng ngọc, quỳ trước tảng đá, lần đầu tiên bật khóc thành tiếng.
“Chiêu Phúc, tôi sai rồi. Tôi cầu xin em, tôi cầu xin em quay về một lần, dù chỉ một lần thôi.”
Núi không đáp.
Nhưng tuyết trên núi càng lúc càng lớn.
Kỳ Hoài Uyên quỳ trước tảng đá một ngày, một đêm.
Sáng hôm sau, ngôi làng dưới chân núi xôn xao.
Có một người đàn ông trông như ông chủ lớn ở thủ đô, quỳ suốt đêm trước tảng đá cũ ở lưng chừng núi.
Ông Vương bảy mươi hai tuổi trong làng gánh củi lên núi, nhìn thấy anh ta.
Ông biết tảng đá đó.
Ông sống ở chân núi hơn nửa đời người, biết đó là “đá phúc” của ngọn núi này. Chỉ khi “người kia” trong núi bằng lòng hiện thân, người ta mới có thể quỳ được trước tảng đá.
Ông Vương đặt gánh củi xuống, ngồi xổm bên cạnh Kỳ Hoài Uyên.
“Ông chủ, cậu quỳ ai vậy?”
Giọng Kỳ Hoài Uyên đã khàn đặc:
“Tôi quỳ Chiêu Phúc.”
Ông Vương sững người, mắt đỏ lên:
“Cô gái ấy… cô ấy về rồi sao?”
“Ông biết cô ấy à?”
Mũi ông Vương cay xè.
“Ông chủ, năm tôi bảy tuổi, mẹ tôi bệnh nặng. Cha tôi cõng bà lên núi quỳ ba ngày ba đêm. Cô Chiêu Phúc bước ra từ khe núi, đưa cho cha tôi một mảnh vải đỏ. Mẹ tôi uống nước sắc từ vải đỏ ấy, sống đến tám mươi sáu tuổi. Bảy mươi năm qua, nhà ai có bệnh nặng đều lên núi quỳ trước tảng đá này. Cô ấy đã cứu ba mươi hai hộ trong làng chúng tôi. Mười năm nay cô ấy không xuất hiện trong núi nữa, chúng tôi còn tưởng cô ấy không cần chúng tôi nữa.”
Kỳ Hoài Uyên sững sờ.
Ông Vương lau nước mắt.
“Ông chủ, cô Chiêu Phúc ở trong núi chúng tôi là tiên của ngọn núi này. Cô ấy rời núi là bị trừ tuổi thọ. Theo các người xuống dưới mười năm, cô ấy mất mười năm tuổi thọ. Nếu cậu thật lòng muốn cô ấy quay lại, vậy cứ quỳ đi. Quỳ đến khi cô ấy chịu ra gặp cậu một lần. Nếu cô ấy không chịu, cậu có quỳ chết cô ấy cũng sẽ không quay về đâu.”
Ông Vương nói xong, dập đầu một cái, cúi thật sâu về phía núi rồi gánh củi xuống núi.
Kỳ Hoài Uyên tiếp tục quỳ.
Ngày thứ ba, con trai ông Vương mang một bình nước nóng lên núi, đặt bên cạnh Kỳ Hoài Uyên.
Ngày thứ tư, hơn bảy mươi hộ trong làng mỗi nhà cử một người lên núi. Mỗi người mang theo một nén nhang, quỳ bên cạnh Kỳ Hoài Uyên trong thời gian cháy hết một nén nhang, dập đầu một cái rồi xuống núi.
Kỳ Hoài Uyên nhìn những người dân quỳ bên cạnh mình.
Lần đầu tiên anh ta biết, mười năm qua, tôi ở nhà anh ta bưng canh, gấp áo sơ mi, khâu chỉ đỏ, không phải là một con ngốc nhỏ trong núi.
Tôi là “cô Chiêu Phúc” mà dân làng trong ngọn núi này gọi suốt bảy mươi năm.
Là ân tình trời lớn ngọn núi này đưa cho nhà họ Kỳ.
Là ân tình mà Kỳ Hoài Uyên anh ta đã giẫm dưới chân suốt mười năm.
Ngày thứ năm, Kỳ Hoài Uyên quỳ đến gần như không nói nên lời.
Khi quỳ, anh ta nhớ lại năm mười một tuổi, mình ngã ngựa, hôn mê ba ngày. Tỉnh lại, dưới gối có một mảnh vải đỏ.
Khi ấy cụ Kỳ nói đó là thứ bà nội để lại.
Anh ta không tin, còn lén ném mảnh vải đỏ đi.
Anh ta không biết đó không phải thứ bà nội để lại, mà là năm ấy cụ Kỳ dẫn anh ta lên núi, quỳ thắp hương trước tảng đá kia.
Khi ấy tôi vẫn chưa xuống núi, nhưng tôi đã để một cơn gió trong khe núi đưa mảnh vải đỏ đến dưới gối anh ta.

