Từ sau lễ Thất Tịch, số lần Bùi Nghiên ra vào Thọ Khang cung thỉnh an Thái hậu bỗng nhiều hẳn lên. Hôm thì lấy cớ bẩm báo việc tuần phòng, hôm khác lại nói thay phu nhân Trấn Bắc Hầu dâng dược thảo vùng biên Bắc. Có khi, cái cớ của chàng nghe qua còn chẳng giống một cái cớ.

Ví như hôm ấy, chàng ôm một cuộn tranh bước vào, vẫn giữ vẻ nghiêm nghị ít nói: “Bẩm Thái hậu nương nương, hạ thần đi ngang qua tiệm tranh, thấy có một bức Mã Đồ cũng tạm được. Nhớ Thẩm cô nương thích ngựa, hạ thần nghĩ có lẽ cô nương sẽ thích bức tranh này.”

Thái hậu ngồi trên thượng tọa, nhướng mắt: “Đi ngang qua?”

Tai Bùi Nghiên thoáng đỏ: “Vâng.”

Thái hậu cười như không cười: “Tiệm tranh ở thành Tây, hôm nay nhà ngươi tuần phòng ở cửa Đông kia mà?”

Bùi Nghiên lập tức cứng họng. Ta đứng trong góc, không nhịn được bật cười. Chàng liếc nhìn ta, trong đáy mắt lại thoáng hiện một ý cười dịu dàng.

Cuối cùng, bức Mã Đồ ấy được treo trong sương phòng của ta. Con ngựa trong tranh không hẳn là bút pháp danh gia, nhưng rất có thần thái, bốn vó xé gió, như sắp lao ra khỏi mặt giấy.

Ta thực sự rất thích.

Tiểu Mãn kiễng chân treo tranh lên, chép miệng: “Bùi tiểu tướng quân tặng đúng sở thích của tiểu thư thật đấy.”

Ta dùng cán quạt gõ nhẹ lên trán em ấy: “Lắm lời.”

Em ấy ôm trán cười trộm: “Nô tỳ nói thật mà.”

Ta cũng không phủ nhận nữa. Bởi vì trong lòng ta hiểu rất rõ, Tiểu Mãn nói đúng.

Bùi Nghiên không giống Tạ Lâm Mặc. Những món quà Tạ Lâm Mặc đem tới sau này luôn giống sự bù đắp muộn màng, mong ta nhận rồi vui vẻ tha thứ. Còn Bùi Nghiên thì không ép ta phải vui, cũng không ép ta phải đáp lại. Chàng chỉ âm thầm ghi nhớ những lời nói bâng quơ, những ánh nhìn dừng lại trong chốc lát, rồi vào một ngày thích hợp, nhẹ nhàng đặt thứ ấy trước mặt ta.

Sự cẩn thận ấy khiến lòng ta vừa vui mừng, vừa có chút sợ hãi.

Ta từng vấp ngã trong tình cảm, nên đối với lòng tốt của người khác luôn nhạy cảm quá mức. Hễ có ai đến gần, ta lại theo bản năng muốn lùi lại.

Thái hậu như nhìn thấu tâm tư của ta. Chiều hôm ấy, Người sai cung nữ pha trà hoa mai, rồi vẫy tay gọi ta lại.

“Chiêu Chiêu, con đang sợ điều gì?”

Ta ôm chén trà, đáp rất khẽ: “Con sợ mình lại nhìn nhầm người.”

Thái hậu bật cười: “Vậy thì cứ chậm rãi quan sát. Người thật lòng thì con nhìn lâu bao nhiêu cũng không sợ; kẻ giả dối mới chỉ bị nhìn vài lần đã lộ nguyên hình.”

Ta ngẩng đầu nhìn Người.

Người chậm rãi nói tiếp: “Ai gia không ép con. Nhóc Bùi có tâm tư thì cứ để nó chờ đến ngày con tự nguyện gật đầu.”

Tim ta mềm xuống: “Nương nương, có phải Người đã biết hết rồi không?”

Thái hậu nhướng mày: “Biết hết chuyện gì?”

Ta đỏ mặt, nhất thời không nói được lời nào.

Người cười lớn: “Con khỉ con này, trước kia nhắc đến nhóc Tạ thì mắt mũi ủ rũ như sương phủ. Bây giờ nhắc đến Bùi Nghiên, ánh mắt lại sáng rỡ cả lên.”

Ta quay mặt đi: “Làm gì có.”

Thái hậu không vạch trần nữa, chỉ vỗ nhẹ lên mu bàn tay ta: “Chiêu Chiêu, đừng vì một đoạn quá khứ không đáng mà đóng cửa trước phúc phận đang ở trước mặt.”

Ta ngẩn ra. Một lúc sau mới nhẹ nhàng gật đầu.

Đến chiều muộn, Bùi Nghiên lại tới.

Lần này, chàng mang theo một chiếc hộp gỗ chạm khắc tinh xảo. Mở nắp ra, bên trong là một sợi dây kết bình an, điểm thêm vài hạt ngọc bích xanh trong. Không quá phô trương quý giá, nhưng thanh nhã và dụng tâm.

Chàng trịnh trọng nói: “Biên thùy phương Bắc gió cát nhiều, thân mẫu ta từng dạy rằng ngọc có thể hộ bình an.”

Ta đưa tay cầm sợi dây kết. Trước kia Tạ Lâm Mặc từng lên chùa xin bùa bình an cho a tỷ; khi ta hỏi phần của mình đâu, hắn chỉ nói ta đâu có ốm đau gì mà cần. Còn giờ đây, có một người đặt hai chữ “bình an” vào tay ta, không vì áy náy, không vì thương hại, chỉ đơn thuần mong ta được bình an.

Ta nhìn Bùi Nghiên: “Sao lại tặng ta món này?”

Bùi Nghiên im lặng hồi lâu, cuối cùng mới nói: “Hôm thả đèn hoa đăng, điều ta viết cũng là mong ngài cả đời bình an.”

Tim ta khẽ rơi xuống một nhịp. Hóa ra khi ấy chàng nhất quyết không cho ta xem, không phải vì sợ mất linh, mà vì sợ ta khó xử.

Ta nắm chặt dây kết bình an, nghe giọng mình rất nhẹ: “Bùi Nghiên.”

Chàng nhìn ta.

Ta mỉm cười: “Lần này, điều ước của chàng linh nghiệm rồi.”

18

Tin từ Thẩm gia truyền vào cung vào đúng rằm tháng Tám. Tổ mẫu bệnh nặng, chỉ mong được gặp ta một lần.

Khi Lý cô cô chuyển lời, ta đang chép kinh thay Thái hậu. Ngòi bút khựng lại, mực đen loang trên mặt giấy.

Tình cảm giữa ta và Tổ mẫu trước nay không tính là thân thiết. Khi còn ở trong phủ, bà thường mắng ta ham chạy nhảy, không có dáng vẻ khuê các. Nhưng năm ấy, trước khi ta lên núi, bà là người duy nhất lén nhét ít bạc vụn và ngân phiếu vào hầu bao cho ta. Bà lạnh mặt dặn: “Trên đường thèm thứ gì thì cứ mua, đừng để người ngoài chê cô nương nhà họ Thẩm túng thiếu.”

Năm đầu tiên ở Thái Cực Tự, ta nhận được một kiện áo bông do bà gửi tới. Đường kim thô, không đều, nhìn là biết không phải do người quen may vá làm ra.

Ta siết chặt quản bút, nhỏ giọng nói: “Nương nương, Người cho phép con về phủ thăm Tổ mẫu một lát được không?”