“Ông ơi, cuốn này bao nhiêu tiền?”

Ông chủ già ngẩng lên, liếc một cái:

“Cái đó à, năm đồng. Một đống giấy vụn thôi, cô lấy thì thêm hai đồng nữa, chồng thư bên cạnh mang luôn.”

Mẹ chồng không nói thêm, rút bảy đồng đưa, rồi cẩn thận gói cuốn sổ và xấp thư, nhét vào ngăn trong cùng của balo.

“Mẹ,” Chu Hạo tò mò, “đó là gì?”

Mẹ ôm chặt balo, “Đi, về nhà.”

Về đến nhà, mẹ chồng chưa kịp thay giày đã lao thẳng vào phòng sách.

Bà khóa cửa, ở trong suốt hai tiếng.

Tôi và Chu Hạo ngồi phòng khách đứng ngồi không yên.

“Vợ, mẹ có phải lại nhặt được bảo bối không?”

“Không biết, nhưng phản ứng của mẹ không giống sách cũ bình thường.”

Hai tiếng sau, cửa phòng mở.

Mẹ chồng bước ra, mặt tràn ngập vui sướng.

Bà gọi chúng tôi đến bàn ăn, rồi lấy cuốn sổ ra, lót vải mềm đặt xuống.

“Đây là gì vậy?” tôi hỏi.

Mẹ hít sâu: “Nếu mẹ không nhìn nhầm, đây là bản thảo viết tay của học giả Thẩm Phục thời Thanh.”

Tôi và Chu Hạo đồng loạt sững sờ.

Thẩm Phục? Tác giả Phù Sinh Lục Ký?

Mẹ chỉ cuốn sổ: “Cuốn Khê Sơn Du Ký này, xét nét chữ, giấy, màu mực, ấn triện, rất có thể là bản thảo du ký cuối đời của ông.”

Chu Hạo lắp bắp: “Vậy… vậy đáng bao nhiêu?”

“Vô giá.”

Mẹ lắc đầu, “Nếu đúng là bản thảo của Thẩm Phục, đây là phát hiện tư liệu lớn. Không thể bán, nên hiến cho bảo tàng hoặc cơ quan nghiên cứu.”

“Hiến á?” Chu Hạo cuống lên, “Mẹ, cái đó—”

“Hạo à,” mẹ ngắt lời, ánh mắt kiên định,

“Có những thứ quan trọng hơn tiền.”

Bà nhìn tôi: “Vy Vy, con có quen ai ở Sở Văn hóa hay trường đại học không? Mình phải tìm chuyên gia thật sự xác nhận.”

Tôi suy nghĩ rất nhanh: “Thầy hướng dẫn thạc sĩ của con, giờ là giáo sư khoa Văn trường Sư phạm, chuyên nghiên cứu tản văn thời Thanh. Con liên hệ nhé?”

“Được!” mẹ gật đầu, “Càng nhanh càng tốt.”

Tôi lập tức gọi điện.

Nghe tôi mô tả sơ qua, giọng thầy thay đổi hẳn:

“Các em đừng động vào! Thầy mang dụng cụ qua ngay!”

Một tiếng sau, thầy dẫn theo hai nghiên cứu sinh đến nhà.

Khi họ thấy cuốn sổ, biểu cảm như nhìn thấy người ngoài hành tinh.

Thầy đeo găng trắng, lấy đèn kiểm định chuyên dụng, soi từng tấc một.

Hai nghiên cứu sinh đứng bên ghi chép, nín thở.

Phòng khách yên lặng đến đáng sợ.

Nửa tiếng sau, thầy đứng thẳng, tháo kính lau.

Thầy nhìn mẹ chồng, giọng đầy tôn trọng: “Bác tìm thấy thứ này thế nào?”

Mẹ kể thật.

Thầy thở dài: “Duyên phận… đúng là duyên phận.”

Tôi hỏi nhỏ, “Thật sự là…?”

Thầy gật đầu,

“Dù cần kiểm định bằng thiết bị để xác nhận cuối cùng, nhưng theo kinh nghiệm của tôi thì tám chín phần mười.”

Chân mẹ mềm nhũn, tôi vội đỡ.

Thầy nói chân thành, “Nếu bác đồng ý, tôi muốn đại diện khoa tạm mượn bản thảo này để nghiên cứu, đồng thời xin một khoản tiền thưởng phát hiện cho bác.”

“Không cần tiền thưởng,” mẹ nói,

“Tôi chỉ muốn biết thứ này có ích không?”

“Có ích!”

Thầy xúc động,

“Nếu xác nhận cuối cùng là bản thảo của Thẩm Phục, đây sẽ là phát hiện lớn của giới học thuật!”

Mẹ cười, cười rồi nước mắt rơi.

“Có ích là tốt… có ích là tốt…”

Tối hôm đó, mẹ không ngủ.

Bà ngồi ngoài ban công, nhìn hai chậu trầu bà rất lâu.

Tôi biết bà đang nghĩ gì.

Cả đời, bà luôn thấy mình vô dụng.

Nhặt ve chai phụ giúp gia đình, nhưng lại làm nhà cửa bừa bộn.

Giờ bà nhặt được thứ có thể thay đổi một lĩnh vực nghiên cứu.

Giá trị đó nặng hơn tiền rất nhiều.

Sau sự kiện bản thảo Thẩm Phục ở trường Sư phạm, mẹ chồng có chút tiếng tăm trong giới.

Ngay cả nguyên giám đốc bảo tàng tỉnh cũng đích thân tới thăm.

Thế là mẹ có thân phận mới: tình nguyện viên sưu tầm hiện vật dân gian của Bảo tàng tỉnh.

Giúp bảo tàng sưu tầm hiện vật, theo quy định sẽ có tiền thưởng.

Những món mẹ xử lý, tổng định giá đã vượt mười triệu, nhưng bà chưa bao giờ lấy thêm một đồng.

Có lần sưu tầm được một bức tiểu phẩm của họa sĩ thời Minh, gia đình người bán khó khăn, mẹ còn bỏ tiền thưởng của mình bù thêm.

ĐỌC TIẾP: https://vivutruyen.net/chiec-hu-trong-ngoi-nha-bo-hoang/chuong-6