Ngày tôi chết, trong phòng bệnh chỉ còn tiếng máy theo dõi tim vang lên từng hồi.

Ung thư dạ dày giai đoạn cuối, tôi gầy đến mức chỉ còn ba mươi ba ký rưỡi.

Y tá lật đi lật lại danh sách người liên hệ khẩn cấp của tôi ba lần.

Chỉ có một số duy nhất, Trình Việt, quan hệ: em trai.

Cuộc gọi được kết nối, đổ chuông tám tiếng.

“Chị à, em đang họp, có việc gì nói nhanh đi.”

Tôi mở miệng, cổ họng như bị một khối gỉ sắt chặn lại.

“Việt Việt, chị… hình như không qua khỏi nữa rồi.”

Đầu dây bên kia im lặng hai giây.

“Ở bệnh viện nào? Để em bảo trợ lý hỏi xem.”

Bảo trợ lý hỏi xem.

Tôi nuôi nó mười tám năm.

Từ năm mười sáu tuổi đến ba mươi bốn tuổi.

Cho nó ăn học, cho nó học cao học, cho nó mặc vest, lái xe đẹp, cưới con gái ông chủ.

Vậy mà nó nói, bảo trợ lý hỏi xem.

Tiếng máy theo dõi tim ngày càng xa dần.

Giây cuối cùng trước khi nhắm mắt, điều tôi nghĩ đến là—

Nếu có thể làm lại, tôi sẽ không cho nó một đồng nào.

01

Tiếng máy theo dõi tim biến thành tiếng ve kêu râm ran.

Chói tai, dày đặc, như xé toạc màng nhĩ.

Tôi giật mình mở mắt.

Trên trần nhà dán đầy giấy báo ố vàng, góc tường có một vết nứt dài, ngoài cửa sổ là ánh nắng tháng Bảy chói chang đến nhức mắt.

Trần nhà này, tôi nhận ra.

Đây là ngôi nhà cũ của nhà họ Trình. Huyện Nam Lăng, thôn Hà Đông, căn nhà đất nơi tôi đã sống suốt 16 năm.

Tôi cúi đầu nhìn tay mình.

Gầy, trắng, xương ngón tay rõ ràng.

Không phải đôi bàn tay thô ráp, nứt nẻ, khớp ngón tay biến dạng lúc 34 tuổi.

Trên tủ đầu giường là một chiếc điện thoại gập vỏ hồng, dán một vòng đá lấp lánh, nhiều viên đã rơi mất.

Đó là chiếc điện thoại tôi mua hồi 16 tuổi sau hai tháng tích cóp tiền tiêu vặt.

Màn hình bật sáng, có một tin nhắn:

“Tri Hạ, ba con gặp chuyện ở công trường rồi, mau đến bệnh viện huyện.”

Thời gian gửi: 10:07 sáng, ngày 14 tháng 7 năm 2006.

Tôi nhìn chằm chằm vào ngày tháng đó, nhìn suốt ba phút.

Năm 2006.

Tôi đã quay về rồi.

Kiếp trước, sau khi nhận được tin nhắn này, tôi nhảy khỏi giường, đi dép lê chạy ba cây số ra đường lớn, bắt một chiếc xe kéo vào huyện.

Lúc đến bệnh viện, ba tôi đã mất rồi.

Dây cáp cẩu ở công trường đứt, ống thép rơi xuống, chết ngay tại chỗ.

Những chuyện sau đó tôi nhớ rất rõ.

Ba ngày sau khi tổ chức tang lễ xong, mẹ tôi gọi tôi vào phòng khách.

Bà nói: “Tri Hạ, Việt Việt mới tám tuổi, ba con mất rồi, giờ chỉ còn trông cậy vào con.”

Bà nói: “Con là chị.”

Bà nói: “Con gái học nhiều để làm gì, chi bằng sớm đi kiếm tiền.”

Năm đó tôi thi cấp hai đứng hạng 11 toàn huyện, trường nhất trung đã gửi giấy báo trúng tuyển.

Tôi gấp giấy báo làm bốn, nhét dưới gối.

Không bao giờ lấy ra nữa.

Kiếp này.

Tôi nhìn tin nhắn đó, hít sâu một hơi.

Đứng dậy, thay đồ, ra khỏi nhà.

Tôi vẫn phải đến bệnh viện.

Có chuyện không thể thay đổi.

Nhưng cũng có chuyện có thể.

Khi đến bệnh viện, hành lang đã đầy người quỳ gối.

Mẹ tôi, Hàn Ngọc Phương, tựa vào tường, mắt sưng đỏ, môi tái nhợt, bên cạnh là bác cả Trình Mỹ Hoa và cậu Hàn Chí Cương.

Vừa thấy tôi, bác cả liền kéo tay tôi: “Tri Hạ, ba con mất rồi, con phải gắng lên.”

Tôi không khóc.

Không phải vì không buồn.

Mà vì tang lễ này, tôi đã trải qua một lần rồi.

Nước mắt cần khóc, kiếp trước đã khóc cạn rồi.

Làm tang lễ mất ba ngày.

Sáng ngày thứ tư, mẹ tôi bảo tôi ngồi xuống chiếc ghế dài trong phòng khách.

Bác cả có mặt, cậu cũng có mặt, thím ba hàng xóm cũng tới.

Em trai Trình Việt ngồi ở bậu cửa ăn cây kem que, tám tuổi, mũm mĩm, vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Mẹ tôi cất lời.

Y chang những lời kiếp trước.

“Tri Hạ, ba con mất rồi, nhà chỉ còn ba mẹ con mình.”

“Con cũng biết mẹ bệnh lưng, không làm nổi việc nặng.”

“Việt Việt mới học lớp hai, sau này còn phải học cấp hai, cấp ba, thi đại học.”

“Con là chị.”

Bà nhìn tôi, chờ tôi trả lời.

Kiếp trước tôi nói: “Mẹ, con biết rồi.”

Kiếp này tôi nói: “Rồi sao nữa?”

Mẹ tôi sững lại.

Bác cả lên tiếng thay: “Ý mẹ con là, cái trường Nhất Trung gì đó thì đừng học nữa, đi làm ở xưởng của chị họ con đi, một tháng cũng được hơn ngàn tệ.”

“Tiền học của Việt Việt, chi tiêu trong nhà, đều trông vào con cả.”

Thím ba cũng phụ họa: “Đúng đó, con gái học nhiều để làm gì, cuối cùng cũng phải lấy chồng thôi.”

Tôi nhìn quanh một lượt.

“Tôi không bỏ học.”

Ba chữ.

Căn phòng khách im phăng phắc.

Sắc mặt mẹ tôi dần dần sa sầm.

Bác cả nhíu mày: “Tri Hạ, con nói kiểu gì vậy? Mẹ con vừa mới mất chồng—”

“Bác cả,” tôi cắt lời bà ấy, “phí mai táng của ba con là ai trả?”

Bác cả há miệng.

“Công trường đền bù tiền mà?” Tôi nhìn mẹ, “Được bao nhiêu?”

Kiếp trước, tôi chưa từng hỏi câu này.

Mẹ tôi giấu rất kỹ chuyện tiền đền bù, tôi cứ tưởng nhà thật sự không có xu nào, nên mới cam tâm bỏ học.

Mãi đến năm 32 tuổi tôi bị đau dạ dày đi kiểm tra sổ sách, mới phát hiện sự thật từ sao kê ngân hàng.

Kiếp này, tôi sẽ không đợi thêm 16 năm nữa.

Ánh mắt mẹ tôi lóe lên.

Rất nhanh, cực kỳ nhanh.

Nhưng tôi thấy rồi.

“Có đền chút ít,” bà nói, “mà không đủ lo tang lễ.”

Tôi không đáp, đứng dậy về phòng.

Lúc khép cửa, tôi nghe bác cả nói bên ngoài:

“Con nhóc này, mọc cánh rồi đấy.”

02

Tôi không vội truy hỏi chuyện tiền bồi thường.

Sống đến 34 tuổi ở kiếp trước, điều quan trọng nhất tôi học được là—

Vội gì chứ, để viên đạn bay thêm chút nữa.

Sáng sớm hôm sau, tôi nhân lúc mẹ ra vườn rau thì lục phòng của bà.

Chiếc rương sắt dưới gầm giường, mật mã vẫn là sinh nhật của Việt Việt: 0215.

Trong rương có sổ hộ khẩu, giấy kết hôn, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, và một quyển sổ tiết kiệm.

Ngân hàng nông thôn.

Số dư: 0.

Nhưng trong lịch sử giao dịch, giao dịch cuối cùng—

Ngày 16 tháng 7 năm 2006, rút 60.000 tệ.

Ba tôi mất ngày 14 tháng 7.

Hai ngày sau, có người rút sáu vạn.

Số tiền đó đã đi đâu?

Tôi cất lại sổ tiết kiệm, khóa rương.

Ba ngày sau nữa, mẹ lại gọi tôi nói chuyện lần thứ hai.

Lần này không gọi bác cả hay cậu đến, chỉ có hai mẹ con tôi, và cả Việt Việt.

Bà bảo Việt Việt ngồi đối diện tôi.

“Việt Việt, nói cho chị nghe, con có muốn đi học không?”

Việt Việt ngậm nửa viên ô mai trong miệng, lúng búng đáp: “Muốn.”

Mẹ tôi nhìn tôi: “Con nghe thấy rồi đấy.”

“Mẹ,” tôi nói, “con cũng muốn đi học.”

“Con đi học, thì Việt Việt làm sao?”

“Việt Việt tám tuổi, học trường làng, học phí mỗi kỳ là 120 tệ. Sao lại không lo được?”

“Vậy sau này thì sao? Cấp hai thì sao? Cấp ba thì sao? Đại học thì sao? Ba con mất rồi, ai nuôi?”

“Chuyện sau này thì để sau này tính. Bây giờ con 16 tuổi, đã nhận giấy báo trúng tuyển Nhất Trung, ngày 1 tháng 9 khai giảng. Con phải đi.”

Khóe miệng mẹ tôi kéo xuống.

Tôi nhận ra nét mặt đó.

Đó là nét mặt mỗi lần bà chuẩn bị khóc.

“Ba con mất mới bảy ngày, con đã cãi mẹ rồi.”

Nước mắt rơi xuống.

Việt Việt bị dọa sợ, òa lên khóc.

“Chị xấu! Chị làm mẹ khóc!”

Kiếp trước, chiêu này lần nào cũng hiệu nghiệm.

Mẹ tôi khóc, Việt Việt quấy, là tôi lại mềm lòng.

Kiếp này, tôi vẫn ngồi yên trên ghế.

Tôi chờ họ khóc xong.

Năm phút.

Đợi đến khi tiếng khóc của Việt Việt từ gào thét chuyển thành thút thít, nước mắt của mẹ tôi từ từng giọt to chuyển thành giọt nhỏ, tôi mới mở miệng.

“Mẹ, khóc không giải quyết được gì.”

“Con học Nhất Trung, học phí mỗi kỳ là 950 tệ. Con sẽ đi làm thêm trong hè ở thị trấn, kiếm được phần nào. Phần còn lại con sẽ xin hỗ trợ miễn giảm từ trường.”

“Chi phí sinh hoạt của mẹ và Việt Việt, tiền bồi thường của ba là đủ.”

Câu cuối cùng, tôi nói rất nhẹ.

Nhưng hiệu quả như một quả bom nổ tung.

Nước mắt mẹ tôi lập tức ngừng lại.

“Bồi thường gì?”

“Của công trường.”

“Cái con khỉ ấy bồi thường!” Bà lập tức lớn tiếng, “Ba con là lao động thời vụ, không ký hợp đồng, ông chủ bỏ trốn rồi, không được một xu nào!”

Bà nói chắc như đinh đóng cột.

Tôi nhìn thẳng vào mắt bà.

Kiếp trước, tôi đã tin.

Kiếp này, tôi biết rõ trong sổ tiết kiệm có một giao dịch rút 60.000 tệ.

Tôi không vạch trần ngay lúc đó.

Vì chưa đủ.

Sáu vạn chỉ là phần nổi của tảng băng.

Kiếp trước, năm 32 tuổi tôi mới tra ra được con số thật: 48 vạn.

“Được thôi,” tôi nói, “vậy con sẽ tự nghĩ cách.”

Tôi đứng dậy.

Bước tới cửa, ngoái đầu nhìn Việt Việt một cái.

Nó co người trong lòng mẹ tôi, nước mắt vẫn còn đọng trên má.

Tám tuổi.

Kiếp trước, tôi đã vì khuôn mặt này mà từ bỏ mọi thứ.

Kiếp này, tôi vẫn sẽ tốt với nó.

Nhưng tôi sẽ không dùng mạng sống của mình để đổi lấy tương lai cho nó nữa.

03

Kỳ nghỉ hè còn lại bốn mươi ngày.

Tôi đến quán cơm nhỏ duy nhất ở thị trấn, nói với bà chủ rằng tôi có thể bưng bê, rửa bát, thái rau, việc gì cũng làm được.

Bà chủ nhìn tôi một cái: “Bao nhiêu tuổi rồi?”

“Mười sáu.”

“Mỗi ngày hai mươi tệ, bao cơm trưa, làm không?”

“Làm.”

Sáng dậy lúc năm rưỡi, đạp xe bốn mươi phút vào thị trấn, làm đến ba giờ chiều mới về nhà.

Về đến nhà còn phải nấu cơm, giặt đồ, cho gà ăn.

Cái “đau lưng” của mẹ tôi sau khi tôi bắt đầu đi làm thì nhanh chóng “chuyển biến xấu”, biến thành nằm giường cả ngày, đến cơm cũng không nấu.

Ba bữa của Việt Việt cũng đổ hết lên đầu tôi.

Tôi không than thở.

Những việc này, kiếp trước tôi đã làm suốt mười tám năm.

Quá quen tay rồi.

Nhưng có một điều khác biệt.

Kiếp trước, tiền tôi kiếm được mỗi ngày đều đưa hết cho mẹ, không giữ lại một xu.

Kiếp này, tôi mở một tài khoản ở ngân hàng tín dụng thị trấn.

Mỗi ngày kiếm được hai mươi tệ, tôi gửi mười lăm, giữ lại năm tệ làm tiền xe và mua đồ ăn.

Hai mươi tám ngày, tôi để dành được bốn trăm hai mươi tệ.

Một tối giữa tháng Tám, mẹ tôi bất ngờ xuất hiện trước cửa phòng tôi.

“Tri Hạ, mày làm được bao nhiêu tiền rồi?”

“Không nhiều.”

“Bao nhiêu?”

“Hơn bốn trăm.”