Nghe vậy, Chị Tóc Tết lại kéo từ dưới ghế ra một túi nhựa màu trắng.

Lần này trông nặng hơn.

Chị quay đầu ném thẳng lên đùi tôi.

Tôi cúi xuống nhìn—

Trên túi in chữ “Siêu thị Trust-Mart”, đã phai đến bạc màu.

Bên trong toàn là tiền.

Lẻ tẻ đủ loại.

Có tờ một trăm, tờ năm mươi.

Cũng có tờ mười, tờ năm.

Thậm chí còn có tờ một tệ được dán bằng băng keo trong cùng một đống tiền xu.

“Cầm lấy.”

Chị Tóc Tết nhai kẹo cao su.

“Đi học đi.”

Tôi sững người.

Bố mẹ tôi đều là người thể diện, tiền họ đưa tôi luôn mới tinh, phẳng phiu.

Nhưng họ hiếm khi cho tôi tiền.

Họ nói, trẻ con có tiền trong tay sẽ học hư.

Bữa sáng mỗi ngày của tôi là bánh màn thầu còn thừa từ tối hôm trước, bữa trưa là món cải trắng luộc rẻ nhất trong nhà ăn trường.

Nhưng bây giờ…

Hai cô gái nổi loạn vừa ra khỏi trại tạm giam, lương tháng còn chưa tới 2.500 tệ, lại cho tôi cả một túi tiền lớn để tôi học Đại học Bắc Kinh.

7

Tôi buộc lại túi, đặt vào khoảng trống giữa ghế lái và ghế phụ.

“Tôi không nhận.”

Cả hai đồng thanh:

“Nhất định phải nhận!”

Chị Tóc Vàng trừng tôi qua gương chiếu hậu.

“Đây không phải cho cô, mà là đầu tư!”

Chị Tóc Tết cũng nói:

“Đúng! Bọn tôi học người ta đầu tư mạo hiểm, rót vốn vào một cổ phiếu tiềm năng.

“Đợi cô tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh, phải trả cả vốn lẫn lãi cho bọn tôi.

“Gấp đôi… không, gấp ba!

“Cuối cùng chắc chắn bọn tôi vẫn là người lời.”

Tôi nhìn họ.

Họ cũng nhìn tôi.

Ánh mắt dữ dằn.

Như thể tôi không nhận tiền, họ sẽ đánh tôi một trận ngay trên xe.

Lúc này tôi mới gom tiền lại, nghiêm túc đếm hai lần.

Sáu nghìn một trăm ba mươi bốn tệ rưỡi.

Tôi lấy từ túi ra cây bút bi đen và quyển sổ nhỏ luôn mang theo.

“Muốn tôi nhận cũng được, nhất định phải viết giấy nợ.”

Chị Tóc Tết nằm sấp trên lưng ghế, nhoài nửa người nhìn tôi viết.

“Ái chà, học sinh giỏi đúng là khác hẳn.”

Chị tấm tắc ngạc nhiên.

“Xe xóc nát thế này mà chữ vẫn ngay ngắn như in, đẹp thật đấy.”

Vừa dứt lời.

Chị Tóc Vàng đạp ga, chiếc xe tải nhỏ lao thẳng qua một ổ gà lớn giữa đường.

“Rầm—”

Cổ tay tôi run lên.

Bút bi vạch mạnh một đường đen dài ngoằn ngoèo trên giấy.

Chị Tóc Tết biết điều im miệng.

Chị Tóc Vàng chửi thề:

“Mẹ kiếp! Con đường nát này sửa tám trăm năm cũng chẳng xong!”

Tôi nhìn đường đen đó, hít sâu một hơi.

Từ lúc đặt bút viết chữ đầu tiên, tôi đã liên tục chuẩn bị tâm lý.

Viết đến cuối, cuối cùng tôi cũng hỏi được câu đó thành lời.

“Hai chị… tên gì?”

Hai người nhìn nhau, lúc này mới nói cho tôi biết.

Chị Tóc Vàng tên Đường Nhược Bình.

Chị Tóc Tết tên Phạm Tiểu Thảo.

Tôi hỏi rõ từng chữ trong tên họ, trịnh trọng viết tên hai người vào vị trí chủ nợ.

Cuối cùng, ở phần ký tên, tôi viết—

Người vay: Đậu Thời Vũ.

Tôi nhìn tờ giấy được xé ra này.

Ba cái tên vốn không nên liên quan đến nhau, trong mùa hè nóng bức ấy, lại xuất hiện trên cùng một tờ giấy.

Tôi hơi ngẩn người.

Trong đầu bỗng nảy ra một ý nghĩ.

Cảm ơn bố, cảm ơn mẹ.

Nếu hai người không từ chối cho con học phí, không báo cảnh sát bắt con, sống chết không chịu hòa giải, nhất định phải nhốt con trong trại tạm giam mấy ngày.

Một con mọt sách chỉ biết làm bài như con sao có thể quen được hai người chị thế này?

8

Đến ga, hai người chị xử lý mọi việc rất thành thạo.

Họ nói với nhân viên quầy vé rằng tôi làm mất căn cước, cần làm giấy tạm thời, chỉ vài câu đã mua xong vé đi Bắc Kinh.

Đó là một vé ghế cứng.

Tôi cầm vé, chuẩn bị vào ga.

Phía sau, Chị Tóc Tết bỗng dùng khuỷu tay huých Chị Tóc Vàng, nháy mắt ra hiệu.

“Này, cô nói xem bây giờ hai chúng ta có giống đưa con gái đi học không?”

Chị Tóc Vàng vỗ một cái vào sau đầu Chị Tóc Tết.

“Biến đi! Bà đây còn chẳng có đàn ông, lấy đâu ra đứa con gái lớn thế này!”

Chị lại vẫy tay với tôi.

“Vào đi, học cho tử tế. Đừng làm bà đây mất mặt.

“Nhớ món nợ mười tám nghìn bốn trăm linh ba tệ rưỡi với bọn tôi đấy!”

Tôi ra sức gật đầu.

Xách theo ba quả táo, xoay người bước qua cổng soát vé.

Lên chuyến tàu màu xanh đi Bắc Kinh.

Toa tàu rất chật, mùi mì ăn liền trộn lẫn với mùi mồ hôi.

Đối diện chếch bên kia là một đứa trẻ ba bốn tuổi, tay cầm chiếc điện thoại dành cho người già, cứ bật loa ngoài một bài đồng dao.

“Hai con hổ, hai con hổ, chạy thật nhanh, chạy thật nhanh.

“Một con thiếu một mắt, một con không có đuôi, thật kỳ lạ, thật kỳ lạ!”

Tôi tựa vào cửa sổ, nhìn sân ga lùi dần bên ngoài.

Hồi nhỏ, tôi luôn thấy bài hát này thật đáng sợ.

Hai con hổ đó nhất định đã đánh nhau.

Đánh nhau vô cùng thảm khốc.

Một con bị cắn mất đuôi.

Một con bị móc mất mắt.

Mãi đến bây giờ, ngồi trên chuyến tàu rời quê hương, tôi mới chợt hiểu ra.

Nhìn hổ từ chính diện sẽ không thấy đuôi.

Nhìn hổ từ bên cạnh sẽ thiếu một con mắt.

Sự thật thường phụ thuộc vào góc độ ta đứng để quan sát.

Giống như hai người chị nổi loạn của tôi.

Trong mắt cảnh sát, họ là những kẻ tái phạm đầy tiền án.

Trong mắt bố mẹ tôi, họ là rác rưởi dưới đáy xã hội, hạng người không đứng đắn.

Nhưng có lẽ họ không phải những cô gái xấu xa.

Chỉ là hai đứa trẻ lương thiện nhưng thiếu thốn tình yêu thương.