Từng có một lão đạo sĩ xem mệnh cho ta.
Ông ấy nói:
“Cô gái này có thể dùng làm vật tế.”
Khi ấy cha nương đều không hiểu câu đó có ý gì.
Mãi đến năm ta bảy tuổi, nương khó sinh, ta lén chạy đến chùa cầu nguyện.
“Phật Tổ, xin người phù hộ nương con bình an. Con nguyện từ nay về sau không bao giờ ăn kẹo nữa.”
Đợi ta trở về, nương đã bình an sinh được đệ đệ.
Còn ta, từ đó không thể ăn kẹo nữa, hễ vị ngọt vừa vào miệng là sẽ nôn không ngừng.
Cha nương dặn ta tuyệt đối không được để người khác biết ta có năng lực này, nếu không sẽ chuốc họa vào thân.
Năm ta mười lăm tuổi, gia cảnh sa sút, đồ cổ tranh chữ đều bị mang đi cầm bán, những thứ có giá trị trong nhà cũng bị vét sạch.
Lần này, họ ép ta đi cầu nguyện.
Nương ôm đệ đệ khóc nức nở:
“Đệ đệ con mới tám tuổi, chẳng lẽ con muốn nó phải sống những ngày tháng khổ cực sao?”
Ta cảm thấy nương nói cũng có lý.
01
Vì vậy, ta lại đến chùa.
Nhưng lần này phải dùng thứ gì để cầu nguyện đây?
“Phật Tổ, xin người phù hộ nhà con cả đời vinh hoa phú quý, tín nữ nguyện từ nay về sau không bao giờ chịu khổ nữa.”
Vừa dứt lời, ta liền cảm nhận được một luồng nguyện lực rơi xuống người.
Luồng nguyện lực ấy mơ hồ truyền cho ta một thông tin.
Nó nói, cái giá ta đưa ra vẫn chưa đủ.
Ta thở dài, quả nhiên muốn lách luật cũng không được.
Muốn đổi lấy một đời vinh hoa cho cả gia đình, cái giá phải trả tất nhiên không thể nhỏ.
Sau nhiều lần thử, cuối cùng ta hiến tế vị giác của mình.
Sau lần đó, gia tộc quả nhiên lại hưng thịnh.
Cha làm bất cứ việc buôn bán gì cũng thuận buồm xuôi gió.
Những tri kỷ bằng hữu mà nương kết giao cũng đều là quý nhân có ích rất lớn cho gia tộc chúng ta.
Chúng ta lại được mặc lụa là gấm vóc, đeo trang sức quý giá, sống những ngày cơm áo không lo.
Nhưng bất kể ta ăn gì cũng đều nhạt nhẽo như nhai sáp.
Dù là sơn hào hải vị, ta cũng không cảm nhận được chút ngon lành nào.
Cha hoàn toàn không để tâm, ông nói dùng vị giác của ta đổi lấy sự hưng thịnh của gia tộc, vụ trao đổi này quá hời.
Nương cũng chẳng coi đó là chuyện gì lớn, bà bận chăm đệ đệ đến mức ngay cả một câu cũng không có thời gian nói với ta.
Đệ đệ vào học ở thư viện đắt đỏ nhất kinh thành, nó chính là hy vọng của Thẩm gia.
Còn ta lại không được bước ra khỏi cửa phủ nửa bước.
Bởi họ nói ta quá đặc biệt, sợ ta vừa ra ngoài sẽ bị kẻ xấu hãm hại.
Ta sống trong tiểu viện rộng rãi nhất phủ, giống như một món tế phẩm được đặt ngay chính giữa.
Rõ ràng không thiếu ăn thiếu mặc, bên cạnh còn có vô số hạ nhân hầu hạ.
Nhưng ta lại sống vô cùng cô độc.
Lại qua hai năm, Thẩm gia đã trở thành tân quý ở kinh thành.
Cha nương bắt đầu bàn chuyện hôn sự cho ta.
Hôn sự được định với đại công tử Giang phủ, Giang Túc.
Giang gia căn cơ sâu dày, tông tộc đông đúc, nhìn thế nào cũng là Thẩm gia chúng ta trèo cao.
Ta chưa từng gặp vị đại công tử Giang Túc ấy.
Chỉ mơ hồ nghe nói thân thể hắn không được tốt lắm.
Ta không muốn gả cho Giang Túc.
Nhưng nam lớn lấy vợ, nữ lớn gả chồng, nếu ta không lấy chồng, sau này Thẩm gia còn biết ngẩng đầu thế nào với thiên hạ?
Nương ôm đệ đệ, khuyên ta:
“Thư Di, con gả vào Giang gia sẽ là đại phu nhân, sau này quản lý việc trong phủ, thân phận cao quý vô cùng. Cha nương sẽ không hại con đâu.”
Đệ đệ Thẩm Vọng Long cũng trợn mắt nhìn ta:
“A tỷ không chịu gả, chẳng lẽ muốn tranh gia sản với ta sao? Ta nói cho tỷ biết, tất cả mọi thứ của Thẩm gia đều là của ta, không liên quan gì đến tỷ! Tỷ đừng hòng mơ tưởng!”
Cuối cùng, cha lạnh mặt nói:
“Giang gia vì muốn cưới con đã đưa tới vô số sính lễ, chúng ta cũng nhận rồi. Con muốn gả cũng phải gả, không muốn gả cũng phải gả!”
Đến lúc ấy ta mới biết, hóa ra mình vốn chẳng có quyền phản kháng.
Thôi vậy, gả thì gả.
02
Một tháng sau, ta gả vào Giang gia.
Ngay trong đêm động phòng, ta đã hiểu vì sao hôn sự này lại được tổ chức vội vàng như vậy.
Phu quân của ta, Giang Túc, mắc bệnh nặng, chẳng còn sống được bao lâu.
Ta vốn tưởng họ vội vàng cưới thê tử là muốn để lại hậu nhân cho Giang gia.
Nhưng ngay trong đêm đó, ta lại bị áp giải vào Phật đường.
Giang lão phu nhân sai người giữ chặt ta, nghiêm giọng quát:
“Ngươi quỳ ở đây cầu nguyện cho ta. Bao giờ Giang Túc khỏe lại, ngươi mới được đứng lên.”
Ta không muốn để lộ điểm đặc biệt của mình, khó xử nói:
“Mẫu thân, chuyện này… chẳng phải quá ép buộc người khác sao?”
Giang lão phu nhân cười lạnh:
“Đừng giả vờ nữa. Ta biết ngươi có thể hiến tế chính mình để cứu người khác. Nếu không phải vậy, Giang gia ta việc gì phải cưới một nữ tử bình thường của Thẩm gia nhỏ bé các ngươi?”
“Bắt đầu từ hôm nay, ngươi thành tâm cầu nguyện. Nếu Giang Túc không thể khỏe lại… nó mà xảy ra chuyện, ngươi cũng phải chôn cùng!”
Người biết ta có năng lực cầu nguyện chỉ có người nhà.
Tại sao người Giang gia lại biết?
Tại sao cha nương lại nhận nhiều sính lễ đến thế?
Đến lúc này ta mới hiểu, hóa ra ta đã bị bán cho Giang gia.
Trái tim lập tức chìm xuống đáy vực.
Chỉ còn một mình ta trong Phật đường lạnh lẽo ẩm thấp này, cửa lớn bị khóa, lời đe dọa của mẹ chồng dường như vẫn còn vang bên tai.
Chỉ có ánh trăng nhàn nhạt xuyên qua song cửa chiếu vào, rọi lên gương mặt Phật Tổ.
Ta ngẩng đầu nhìn tượng Phật, trong miệng đắng chát như vừa nuốt mười cân hoàng liên.
Ta muốn hỏi Phật Tổ, năng lực này ban cho ta, rốt cuộc là phúc hay họa?
Ta có thể hiến tế mọi thứ thuộc về bản thân để cứu những người bên cạnh.
Nhưng tại sao họ lại lạnh lùng với ta đến vậy?
Ta quỳ trên bồ đoàn, đầu gối đau nhức.
Nhưng dù đau đến đâu cũng không bằng nỗi đau trong lòng.
Người Giang gia quả nhiên nói được làm được, mỗi ngày chỉ cho ta một bữa cơm, nhốt ta trong Phật đường suốt một tháng.
Họ nói bao giờ Giang Túc khỏe lại thì bao giờ mới cho ta ra ngoài.
Ta cũng biết mình là hy vọng duy nhất của Giang gia, chỉ cần ta không chịu nhượng bộ, họ tuyệt đối sẽ không làm gì ta.
Vậy thì cứ giằng co như thế đi.
Nhưng hôm nay tình hình đột nhiên chuyển xấu.
Giang Túc sắp chết.
Khóe mắt Giang lão phu nhân ngấn lệ, bà nghiến răng bước vào Phật đường.
Trong tay bà cầm một thanh kiếm, mũi kiếm chĩa thẳng vào ngực ta.
“Thẩm Thư Di, ngươi đúng là lòng dạ sắt đá! Con trai ta là phu quân của ngươi! Ngươi lại có thể cầm cự suốt một tháng, thà khoanh tay đứng nhìn!”
“Được như ý ngươi rồi đấy, bây giờ nó sắp tắt thở! Nếu ngươi không chịu cứu nó, vậy thì đi theo nó luôn đi!”
Nói xong, bà liền định đâm xuống.
Ta vội nói:
“Ta cứu! Bây giờ cứu vẫn còn kịp!”
Giang lão phu nhân dừng tay, cảnh giác nhìn ta:
“Đừng hòng giở trò!”
Ta còn có thể giở trò gì được nữa?
Ta không cứu Giang Túc thì người chết chính là ta!
Dù không cam lòng đến đâu cũng phải giữ lại cái mạng nhỏ của mình trước đã.
Trong lòng ta đầy cay đắng, bất lực nói:
“Phu nhân không nhìn ra sao? Ta chỉ muốn sống.”
Giang lão phu nhân hừ lạnh:
“Bây giờ cầu nguyện ngay!”
“Được.”
Ta đồng ý, sau đó lại nói:
“Nhưng ta có một yêu cầu.”
Sắc mặt Giang lão phu nhân tối sầm, đang định nổi giận.
Ta vội nói:
“Nếu Giang Túc khỏe lại, xin phu nhân trả lại tự do cho ta, cho phép ta hòa ly.”
Sắc mặt bà lúc này mới dịu đi đôi chút, lạnh lùng nói:
“Cưới ngươi vốn chỉ vì bệnh nan y của Giang Túc. Nếu nó có thể khỏe lại, đương nhiên sẽ không tiếp tục nhốt ngươi.”
Có được lời hứa, ta quỳ trước tượng Phật, bắt đầu thành tâm cầu nguyện.
Một luồng nguyện lực vô hình rơi xuống người ta.
Cuối cùng, ta trả giá mười năm tuổi thọ để đổi lấy sức khỏe cho Giang Túc.
Sau khi cầu nguyện xong, cơ thể giống như bị rút mất thứ gì đó, lập tức mềm nhũn.
Cũng đúng lúc ấy, bên ngoài Phật đường truyền đến tiếng báo:
“Phu nhân, thiếu gia tỉnh rồi!”
“Túc nhi!”
Giang lão phu nhân vui mừng ra mặt, quay người chạy ra ngoài.
Bà chạy quá vội, thậm chí còn vấp phải bậc cửa ngã xuống, bò dậy cũng chẳng buồn phủi bụi trên người, tiếp tục lao đi.
Ta thở phào một hơi, ngồi phịch xuống bồ đoàn.
03
Giang Túc quả nhiên khỏi bệnh.
Thân thể hắn ngày một khỏe mạnh.
Giang lão phu nhân vui mừng vô cùng, ngay cả khi đối mặt với ta cũng bắt đầu có nét cười.
Ngày Giang Túc có thể xuống giường đi lại, bà cuối cùng cũng trả tự do cho ta.
Ngoài thư hòa ly, bà còn đưa cho ta một túi bạc.
“Cầm số tiền này rồi đi đi. Từ nay về sau, Giang gia và ngươi không còn bất cứ quan hệ gì!”
Ta ôm túi bạc, cười khổ.
Số tiền này đã mua mất mười năm tuổi thọ của ta!
Rời khỏi Giang phủ, ta không biết mình nên đi đâu.
Thẩm phủ sao?
Đó là nhà của Thẩm Vọng Long, không phải nhà của Thẩm Thư Di ta.
Dù ở Thẩm gia hay Giang gia, ta đều chỉ là một món tế phẩm được đặt trên bàn, không có tự do, nhưng cũng không cần tự mình kiếm sống.
Giờ đây hoàn toàn lấy lại tự do, ta suy nghĩ rất lâu mới xác định được mình muốn sống cuộc đời thế nào.
Cuối cùng, ta cầm bạc đi tìm người môi giới nhà đất.
Ta mua một tiểu viện ở phía tây thành, sắm sửa vài vật dụng hằng ngày rồi chuyển vào.
Ta còn mua một mảnh ruộng cho người khác thuê, mỗi năm thu một ít tiền thuê đất từ tá điền, đủ để bảo đảm ta không chết đói.
Cuộc sống cứ thế dần ổn định.
Ta học được rất nhiều kỹ năng.
Gánh nước, bón phân, trồng rau, may vá, thêu thùa, sửa cửa sổ…
Chẳng bao lâu, ta đã quen thân với hàng xóm.
Người sống cạnh nhà ta là một nông phu, cũng là tá điền thuê ruộng của ta, tên Lâm Mậu.
Có một đêm, trong viện ta xuất hiện trộm. Nửa đêm ta suýt bị hắn làm nhục, tiếng kêu cứu đánh thức Lâm Mậu nhà bên. Hắn cầm cuốc chạy sang cứu ta.
Sau đó, ta thường giúp hắn vá quần áo. Để đáp lại, hắn sẽ chia cho ta một ít lương thực sau mỗi vụ thu hoạch.
Sân nhà hắn nhỏ hẹp gồ ghề, không thích hợp đập lúa, thế nên thường mượn sân nhà ta làm việc.
Đập thân lúa, chuyển rơm rạ, rê hạt loại bỏ vỏ trấu… việc nào việc nấy đều tốn sức.
Nắng như thiêu đốt trên đầu, Lâm Mậu đổ mồ hôi như mưa.
Nóng quá, hắn liền cởi áo ngoài, để lộ thân hình rắn chắc khỏe mạnh.
Làn da màu đồng, cơ bắp từng khối rõ ràng, quả thật rất đẹp mắt.
Ta trốn trong phòng thêu hoa, hé cửa sổ một khe nhỏ, mệt thì lại ngẩng lên nhìn vài lần.
Bận rộn suốt mấy ngày, cuối cùng lúa mì cũng được xử lý xong.
Chỉ cần phơi thêm một thời gian, đợi khô hẳn là có thể cất giữ.
Lâm Mậu lại để trần nửa người làm việc.
Chậc.
Đẹp thật.
Ta đang nhìn đến xuất thần thì đột nhiên một tiếng sấm vang lên, sắc trời lập tức thay đổi.
Sắp mưa rồi.
Lúa mì vừa mới phơi, nếu bị mưa làm ướt thì công sức trước đó coi như uổng phí.
Sắc mặt Lâm Mậu thay đổi, luống cuống chạy đi lấy bạt che mưa.
Ta cũng ném khung thêu xuống, chạy ra ngoài giúp hắn.
Khoảnh khắc vừa phủ xong tấm bạt, mưa lớn trút xuống như thác, khiến ta và Lâm Mậu ướt như chuột lột.
Cách một màn mưa dày đặc, ta quay đầu nhìn hắn, hai người đều không nhịn được bật cười.
Hắn đứng dưới mái hiên bên ngoài trú mưa.
Ta trở vào phòng thay y phục.
Đợi mưa tạnh, lúc hắn chuẩn bị rời đi, ta gọi hắn lại.
Ta đưa cho hắn một bát canh gừng:
“Uống hết canh gừng cho ấm người, đừng để nhiễm phong hàn.”
Lâm Mậu cười chất phác:
“Thân thể ta khỏe lắm, sẽ không nhiễm phong hàn đâu.”
Ngoài miệng nói vậy, nhưng hắn vẫn bưng bát canh gừng lên, uống cạn một hơi.
Uống xong còn chép miệng:
“Cay thật.”

