“Thẩm gia nếu không nhận con, về sau ai dám dùng con?”

Ta cất văn thư ứng thí vào tay áo:

“Có dùng ta hay không, hãy xem văn chương cùng thực tích.”

Cuối cùng bà đổi giọng, nói mình đã bệnh rất lâu, mấy ngày gần đây còn thường xuyên đau thắt tâm khẩu.

Ta nghe xong liền mời y quan của học thự ra bắt mạch.

Y quan trước mặt mọi người đáp:

“Phu nhân khí huyết vô ngại, không có trọng chứng.”

Bốn phía lập tức lặng ngắt.

Mẫu thân không giữ nổi sắc mặt nữa:

“Thẩm Tri Vi, con nhất định phải làm nhục ta như vậy sao?”

“Ta nuôi con mười lăm năm, rốt cuộc con có tâm hay không?”

Ta lấy từ thư nang ra một túi bạc.

Bên trong là ngân lượng ta tích cóp sau khi làm lục sự, cũng là khoản đầu tiên dùng để hoàn trả ân dưỡng dục.

Ta hai tay dâng cho bà.

Nói rằng về sau mỗi năm đều sẽ gửi về Thẩm phủ, cho đến khi trả hết.

Bà không nhận.

“Con nhất định phải tính toán với ta rõ ràng đến thế sao?”

“Vâng.”

“Nếu ta không nhận?”

“Ta sẽ nhờ tiền trang lập khế gửi giữ.”

Tiếng đồng chung nơi trường thi vang lên lần thứ nhất.

Ta hành lễ với bà:

“Mẫu thân, ta sẽ không hồi phủ.”

Bà đứng nguyên tại chỗ, tựa hồ đến giờ phút ấy mới hiểu ra.

Phong tỏa ngân lượng, hủy thanh danh của ta, đích thân đuổi tới Giang Châu.

Tất cả những điều ấy đều không thể thay ta quyết định nữa.

Tiếng chuông thứ hai vang lên.

Ta xoay người bước vào học thự.

Đám hộ vệ phía sau không ai dám cản.

Mẫu thân cũng chẳng gọi ta nữa.

Cánh chu môn có thể giữ khảo thiếp.

Có thể thiêu thư tiến cử.

Thậm chí có thể khiến thiên hạ nghị luận ta bất hiếu.

Nhưng không thể khóa được một người đã quyết ý rời đi.

Sau khi mẫu thân hồi kinh, bà sai người cạy chiếc hòm cũ trong phòng ta.

Bà muốn tìm ra chứng cứ chứng minh ta tính tình cực đoan, cố ý ngỗ nghịch.

Để chứng minh chuyện mất mặt ở Giang Châu không phải lỗi của bà.

Trong hòm chẳng có lời oán hận.

Cũng không có sổ sách.

Chỉ có một xấp thư chưa từng gửi.

Lá thư sớm nhất được viết khi ta bảy tuổi.

“Mẹ, hôm nay thật ra con đau lắm.”

“Nhưng mỗi khi định lên tiếng, con lại nhớ tới cánh cửa Phật đường kia.”

Mẫu thân cầm thư đi hỏi Chu ma ma.

Về sau Chu ma ma viết thư kể cho ta chuyện xảy ra ngày ấy.

Bà nói lúc ta chào đời gặp phải khó sinh, tắt thở một hồi lâu mới cứu lại được.

Hài tử nhà khác vừa lọt lòng đã khóc, còn ta chỉ có thể phát ra tiếng thở yếu ớt.

Từ đó mẫu thân đã cảm thấy ta thiên tính lãnh đạm.

Năm sáu tuổi, trưởng tỷ làm đổ giá nến trong Phật đường.

Tỷ ấy kinh sợ phát sốt, được mẫu thân ôm về phòng.

Còn ta lại bị then cửa rơi xuống, nhốt ở bên trong.

Ta đập cửa suốt nửa đêm.

“Mẹ, mở cửa.”

“Bên trong cháy rồi.”

Tỳ nữ trực đêm nghe tiếng khóc gọi, định chạy tới xem.

Mẫu thân lại nói:

“Minh Châu bệnh thành thế này, nó còn muốn làm loạn.”

“Chẳng qua vì không chịu được việc tỷ tỷ được ta chăm sóc.”

Mãi đến khi khói đặc tràn ra khe cửa sổ, hạ nhân mới phá cửa xông vào.

Lúc được cứu ra, cổ họng ta đã khàn đặc vì gào gọi.

Chu ma ma kể xong liền lấy ra một tờ chẩn thư đã úa vàng.

Trên đó chỉ có tám chữ:

“Kinh cụ bế thanh, nghi đa phủ úy.”

Kinh sợ mất tiếng, cần được an ủi nhiều.

Mẫu thân nhận ra tờ giấy ấy.

Năm đó sau khi đại phu đưa đến, bà chỉ liếc qua một cái rồi ép xuống đáy hộp tạp vật.

Bà vẫn luôn cho rằng sự trầm mặc là do ta cố ý bày ra cho bà xem.

Năm bảy tuổi, ta ngã từ bậc đá xuống, xương chân gãy, cả người cứng đờ nằm trên đất.

Mẫu thân hỏi ta có đau không.

Ta không thể mở miệng.

Bởi vậy bà trách ta cổ quái.

Nhưng bà chẳng biết khi trông thấy bà đi tới.

Thứ ta nhớ lại chính là cánh cửa mãi chẳng chịu mở kia.

Năm mười tuổi bị bắt cóc, ta cũng từng khóc gọi mẫu thân.

Phỉ đồ chê ta ồn ào, vung đao làm bị thương tỳ nữ che trước người ta.

Ta nhìn nàng ấy chảy máu.

Từ đó ngay cả cầu cứu cũng chẳng dám thành tiếng.

Những việc ấy, Chu ma ma vẫn luôn biết.

Mẫu thân hỏi bà:

“Vì sao ngươi không nói sớm?”

Chu ma ma quỳ rất lâu mới đáp:

“Nô tỳ đã nói.”

“Nhưng phu nhân chỉ bảo Nhị tiểu thư biết giả vờ đáng thương, không cho nhắc lại nữa.”

Những lá thư trong hòm nối tiếp nhau.

“Mẹ, cây cung gỗ mun là phụ thân để lại cho con, con không nỡ.”

“Mẹ, con cũng muốn tham gia kỵ xạ hội.”

“Mẹ, Tạ Nghiễn Từ từng hứa sẽ đợi con, hôm nay con rất đau lòng.”

Mỗi lá thư đều rất ngắn.

Gấp xong lại bị ta đè xuống đáy hòm.

Ta sợ gửi đi rồi sẽ đổi lấy một câu tranh sủng.

Cũng sợ mẫu thân phát hiện ta để tâm.

Lần sau bà sẽ lấy đi nhiều hơn.

Lá thư cuối cùng viết trong đêm cập kê.

Trên giấy không có xưng hô, cũng không ký tên.

“Con đã cầu xin rồi, nhưng mẫu thân nhìn thấy con biết đau lại càng vui hơn.”

Mẫu thân đọc xong, đem toàn bộ thư bày đầy dưới đất.

Tiếng khóc bà cố chấp muốn nghe suốt bao năm qua, từ lâu đã vang lên suốt nửa đêm sau cánh cửa Phật đường.

Chỉ là đêm ấy.

Bà không mở cửa.

Về sau cũng chính bà tự tay dạy ta.

Dù đau đến đâu.

Cũng chớ để mẫu thân nghe thấy.

Ba năm sau, ta lấy đầu danh trong công khai nữ quan thí mà nhập sĩ.

Ngày điện thí, khảo quan hỏi ta:

“Trong việc tuyển nữ quan, điều gì cần sửa nhất?”

Ta đáp:

CHƯƠNG 6 – ẤN ĐỂ ĐỌC TIẾP: https://vivutruyen.net/doan-tuyet-tham-gia/chuong-6/