Tôi giả vờ đi ngang qua cửa phòng sách, nhìn thấy các khớp ngón tay cầm bút của cô bé trắng bệch, trên trán rịn ra một lớp mồ hôi mỏng.
Chữ viết trên bài kiểm tra rất ngay ngắn, mỗi bài đều trình bày các bước cẩn thận. Cho dù kết quả cuối cùng sai, quá trình suy luận vẫn được ghi đầy đủ.
Khi thu bài, thầy Chu liếc qua một cái nhưng không nói gì.
Lúc Cố Nha Nha đứng dậy khỏi ghế, hai chân hơi mềm, phải vịn vào mép bàn một lát mới ổn định lại.
Ngày hôm sau, thầy Chu gọi điện tới. Câu đầu tiên thầy nói là:
“Con bé Nha Nha đó, vẫn cứu được.”
Thầy nói Cố Nha Nha nhớ rất chắc những khái niệm cơ bản, các công thức và định lý cơ bản đều chưa quên. Chỉ vì hai năm không đụng vào bài tập nên cảm giác làm bài trở nên xa lạ, tốc độ không theo kịp.
Nhưng cô bé có thể ngồi yên, đủ kiên nhẫn để tự suy nghĩ, không giống bọn trẻ bây giờ, vừa nhìn thấy đề khó đã lập tức lật đáp án tham khảo.
“Cho con bé ba tháng.”
Thầy Chu nói:
“Kỳ thi tháng sẽ biết kết quả.”
Kể từ đó, mỗi ngày sau khi tan học, Cố Nha Nha đều cùng tôi về nhà.
Thẩm Độ Phong cũng từ chối những buổi chơi bóng và chơi điện tử cùng bạn bè như trước đây. Vừa tan học là nó đạp xe tới cổng trường chờ cô bé, sau đó hai đứa cùng nhau trở về.
Lý Mai tính giờ nấu cơm. Cứ cách hai ngày lại làm món thịt kho một lần. Trên bàn lúc nào cũng có sườn xào chua ngọt và trứng xào cà chua mà Cố Nha Nha thích ăn.
Chiếc hộp giữ nhiệt cô bé mang về cho ông bà ngày nào cũng được đựng đầy.
Có lúc Lý Mai gói sủi cảo, có lúc hầm canh gà, có lúc lại làm bánh hành vừa mới ra khỏi chảo.
Mỗi ngày trước khi về nhà, Cố Nha Nha đều đứng chờ ở cửa bếp. Khi đưa hộp giữ nhiệt cho cô bé, Lý Mai luôn nhét thêm hai quả quýt hoặc một hộp sữa:
“Ăn trên đường.”
Lần nào Cố Nha Nha cũng nhỏ giọng nói:
“Cháu cảm ơn thím.”
Giọng nói nghèn nghẹn, đầu cúi xuống, bước chân đi rất nhanh.
Có một tối tôi tăng ca về muộn, đi ngang qua phòng cô bé thì nhìn thấy một vệt sáng hắt ra từ khe cửa.
Đã hơn mười hai giờ đêm, tôi gõ cửa.
“Vào đi ạ.”
Cô bé ngồi trước bàn học. Đèn bàn tạo thành một vòng sáng nhỏ, mái tóc được buộc tùy tiện bằng dây chun, trước mặt trải một chồng sách bài tập dày.
Nhìn thấy tôi, cô bé theo bản năng lập tức thẳng lưng.
“Muộn thế này rồi còn chưa ngủ?”
“Cháu còn hai bài tự luận Vật lý cuối cùng.”
Cô bé dùng đầu bút chỉ vào giấy nháp.
“Thầy Chu nói mô hình được giảng hôm nay cháu vẫn chưa hiểu hoàn toàn, cháu muốn tự suy luận lại một lần.”
Tôi bước tới nhìn.
Trên giấy nháp viết kín các bước suy luận. Chỉ một bài toán mà cô bé đã tính đầy ba trang giấy. Bên cạnh một bước bị gạch đi rồi tính lại trên trang cuối có đánh một dấu hỏi để ghi chú.
“Bị mắc ở bài này sao?”
“Vâng.”
Cô bé cắn nắp bút.
“Cháu dùng hai phương pháp nhưng tính ra hai kết quả khác nhau, không biết cách nào đúng.”
Tôi định nói rằng mình cũng không biết, nhưng suy nghĩ lại rồi mở điện thoại tìm đáp án, đưa cho cô bé:
“Cháu xem cách giải này.”
Cô bé ghé đầu lại nhìn màn hình điện thoại, đôi mắt chăm chú theo dõi từng bước phân tích, trong miệng lẩm nhẩm.
Sau khi nhìn được hai phút, cô bé đột nhiên “à” một tiếng, nhanh chóng cầm bút lên tính lại trên giấy nháp.
Đầu bút chạy loạt xoạt rất nhanh. Tóc từ sau tai rơi xuống nhưng cô bé cũng không rảnh đưa tay vén lên, cứ nghiêng đầu như vậy viết kín cả trang giấy, cuối cùng khoanh tròn một kết quả, đặt bút xuống rồi thở phào một hơi.
“Đúng rồi.”
Cô bé quay đầu nhìn tôi, hai mắt sáng như có bóng đèn bên trong.
“Chú nhìn này, phương pháp thứ ba mới đúng. Trong hai cách trước, ở bước thứ hai cháu thay sai một ký hiệu…”
Nói được một nửa, cô bé đột nhiên dừng lại, dường như lúc này mới nhận ra mình đang nói chuyện với ai.
Sự phấn khích lập tức bị thu lại một nửa, giọng nói cũng nhỏ xuống:
“Cháu cảm ơn chú.”
“Người cháu nên cảm ơn là chính mình.”
Tôi vỗ vào chồng sách bài tập trên bàn.
“Đã làm xong hết chưa?”
“Vâng, bài hôm nay đã làm xong rồi.”
Cô bé cúi đầu sắp xếp chồng vở cho ngay ngắn, đột nhiên nói thêm một câu rất nhỏ:
“Nhanh hơn hôm qua hai mươi phút.”
Tối hôm đó, khi tôi trở về phòng ngủ, Lý Mai vẫn chưa ngủ. Bà ấy dựa vào đầu giường xem điện thoại. Khi tôi nằm xuống, bà ấy xoay người lại:
“Tôi vừa mang sữa cho Nha Nha, thấy nó vẫn còn học. Con bé liều mạng quá, ông khuyên nó ngủ sớm một chút đi, đừng làm hỏng sức khỏe.”
“Không khuyên được đâu.”
Tôi nhắm mắt lại.
“Trong lòng con bé đang có một ngọn lửa.”
Lý Mai thở dài, tắt đèn đầu giường. Trong bóng tối, bà ấy nói:
“Ông có để ý không? Con bé cười lên đẹp lắm.”
Tôi không nói gì, nhưng tôi biết bà ấy đang nhắc đến chuyện gì.
Trong bữa tối hôm qua, Thẩm Độ Phong kể một chuyện cười ở trường. Nó nói giáo viên chủ nhiệm lớp đang giảng bài thì ngủ quên, tiếng ngáy của chính mình lại khiến thầy giật mình tỉnh dậy.
Cố Nha Nha không nhịn được, lập tức bật cười. Hai lúm đồng tiền hiện lên bên khóe môi, đôi mắt cong cong, cả người như đột nhiên bừng sáng.
Ngày hôm sau sau khi tan học, Thẩm Độ Phong thần thần bí bí kéo tôi sang một bên:

