Còn đôi giày vải trên chân An An, tôi mua ở chợ đầu mối, giá một trăm rưỡi.
Đi được tám tháng, mũi giày đã bong keo, đế giày bên phải sắp mòn thủng cả rồi.
Tôi ngồi xổm xuống, nhét đôi giày cũ kỹ của An An vào vali.
Tuy mòn đến thảm hại, nhưng đem về quê nhờ ba tôi lấy keo dán lại một chút, vẫn có thể xỏ tạm.
Hơn chín giờ tối, Cố Thành về.
Thấy những chiếc vali ngoài phòng khách, anh ta nhíu mày.
Anh ta dựa lưng vào khung cửa, vừa định nói gì đó thì điện thoại lại đổ chuông.
Sau khi nghe máy, sắc mặt Cố Thành thay đổi hẳn.
“Được, anh biết rồi… Đừng vội, anh qua ngay.”
Anh ta cúp máy, thậm chí chẳng thèm hỏi tôi định đi đâu, quay đầu lại bắt đầu đổi giày.
“Tiểu Vũ bị sốt rồi, ba mươi chín độ hai, Hà Dao nói thằng bé thở dốc dữ lắm, anh qua đó xem thế nào.”
Cánh cửa “rầm” một tiếng đóng lại.
Phòng khách chìm vào tĩnh lặng.
Năm An An bốn tuổi rưỡi cũng từng lên cơn sốt cao, nửa đêm một mình tôi ôm con gọi taxi đến bệnh viện.
Tôi gọi cho Cố Thành bốn cuộc không ai nghe máy, ngày hôm sau anh ta mới nói là đang giúp nhà Hà Dao sửa ống nước, điện thoại để chế độ im lặng.
Nửa đêm tôi dậy đắp lại chăn cho An An.
Con bé trở mình, lẩm bẩm một câu, giọng rất khẽ, nhưng từng chữ lại đâm thẳng vào tim tôi:
“Ba lại sang nhà em trai rồi hả mẹ…”
Nói xong, con bé lại cuộn tròn người trở mình, nhịp thở trở lại đều đặn.
Góc chăn tuột khỏi tay con.
Tôi cúi xuống nhặt lên đắp lại, rồi ngồi thẫn thờ bên mép giường rất lâu.
Vé tàu ngày mốt, tôi sẽ không đổi nữa.
**3.**
Chuyến tàu về đến thị trấn thì trời đã tối mịt.
Ba tôi đứng bên ngoài rào chắn cửa ra ga, kiễng chân nhìn ngóng vào trong đám đông.
Chiếc áo bông màu xanh quân đội trên người ông đã mặc mấy năm rồi, tóc lại bạc thêm một vòng so với lần trước tôi gặp.
An An nhìn thấy ông đầu tiên. Con bé kéo chiếc vali nhỏ lao tới, bánh xe chạy trên đất kêu cọc cạch.
“Ông ngoại!”
Ba tôi ngồi xổm xuống đón lấy con bé, đầu gối cộc xuống nền xi măng.
Khi bế An An đứng lên, chân ông hơi loạng choạng.
“Lại nặng thêm rồi.” Ông cười, nếp nhăn xô lại đầy mặt.
An An ôm cổ ông, ríu rít kể chuyện trên tàu.
Nào là nhìn thấy bò, đi qua một con sông rất rộng, dì ngồi cạnh cho một viên kẹo.
Ba tôi một tay bế An An, một tay định đón lấy vali của tôi, nhưng tôi không đưa.
Ông cứ để trống bàn tay đó, bước đi song song bên cạnh tôi.
Khi đi ngang qua chợ đầu thị trấn, An An nằm nhoài trên vai ông ngoại, dán mắt vào sạp bán kẹo mạch nha tạo hình.
Ba tôi rút tờ hai chục ngàn ra: “Ông ngoại mua cho cháu hình con bướm nhé.”
An An lắc đầu. “Mẹ bảo không được tiêu tiền lung tung.”
Tôi biết con bé rất thèm, nhưng đứa trẻ này hiểu chuyện đến mức khiến người ta đau lòng.
Ba tôi dúi luôn tờ tiền qua cho người bán.
Về đến nhà, mẹ tôi đang đứng chờ ở cổng sân, trên tạp dề vẫn còn dính bột mì.
Từ dưới bếp bay ra mùi canh sườn hầm, thơm nức mũi cách một bức tường vẫn ngửi thấy.
Bà đón lấy chúng tôi, trước tiên vuốt ve má An An, sau đó cúi xuống nhìn quần bông của con bé.
Ba lớp vá, chỗ đầu gối đã sờn bạc.
Bàn tay bà khựng lại trên ống quần rất lâu.
“Rửa tay rồi ăn cơm đã.” Bà quay lưng bước vào nhà.
Trên bàn ăn dọn sẵn bốn bát canh sườn, một đĩa rau xào, một đĩa trứng vịt muối.
Sườn hầm rất nhừ, đũa chạm vào là róc xương.
Bình thường An An ăn không nhiều, nhưng hôm nay đũa gắp gần như không ngừng.
“Ngon không cháu?” Mẹ tôi hỏi.
Trong miệng An An vẫn đang ngậm xương, lúng búng đáp: “Bà ngoại hầm là ngon nhất trần đời.”
Mẹ tôi lại gắp thêm hai miếng vào bát con.
Ăn cơm xong, mẹ tôi ôm từ buồng trong ra một xấp vải, ngồi xổm xuống ướm lên người An An.
“Để bà may cho cháu cái quần bông mới.”
An An cúi đầu nhìn miếng vá trên đầu gối.
“Mẹ cháu vá rồi, vẫn mặc được mà bà.”

